Category: Thị Trường Nông Sản

  • Tác động tiêu cực từ dịch tả heo châu Phi, thị trường thịt heo cuối năm có khan hàng?

    Tác động tiêu cực từ dịch tả heo châu Phi, thị trường thịt heo cuối năm có khan hàng?

    Trước những tác động tiêu cực từ dịch tả heo châu Phi (ASF) khiến người chăn nuôi thiệt hại nặng nề, tâm lý e ngại không tiếp tục tái đàn sợ rủi ro. Tình trạng này kéo dài sẽ không tránh khỏi nguy cơ khan hàng, thiếu thịt vào thời điểm cuối năm.

    Kịch bản sẽ diễn ra được dự báo trước là nguồn cung khan hàng, nhu cầu sử dụng thịt heo tăng cao vào thời điểm cuối năm. Các địa phương, doanh nghiệp đang chạy đua tìm nguồn cung để tăng lượng thịt heo thiếu hụt, giảm nguy cơ thịt heo sẽ “sốt” giá thời điểm cuối năm.

    Khó tránh khỏi khan hàng dịp cuối năm

    Trước tác động tiêu cực của dịch ASF, nhiều người trong phút chốc trắng tay, tiền tỷ bốc hơi thành mây khói, ông Đặng (Đồng Nai) vừa nhanh chóng bán hơn 1.000 con heo thịt đang lớn do lo sợ rủi ro, dịch lan đến trang trại của ông. Tuy nhiên ông cũng giữ lại 700 con trong trại lạnh chờ chúng đạt đủ trọng lượng và được giá.

    thit heo 1

    Tiên lượng cuối năm giá heo sẽ tăng cao nhưng ông Đặng cũng chẳng dám tái đàn vì lo sợ rủi ro dịch bệnh.

    Ông Minh, thương lái chuyên cung cấp hàng cho chợ đầu mối TPHCM chia sẻ, hiện rất nhiều trại heo tại Đồng Nai đang đua nhau bán lợn “chạy dịch: dù trọng lượng chúng còn đang “non”, chưa đạt như tiêu chuẩn thông thường. Dù giá heo hơi lúc này rớt xuống thấp hơn cả giá thành, chỉ 30.000đ/kg. Bởi người chăn nuôi thà bán lỗ, bán rẻ vẫn còn vớt vát được chút ít, còn hơn là mất trắng.

    Đàn heo tại thủ phủ heo Đồng Nai hiện còn đã giảm 20-40% so với bình thường do heo bệnh bị tiêu hủy, người chăn nuôi bán tống không tái đàn khiến thiếu hụt nguồn cung thị trường thời điểm cuối năm không tránh khỏi.

    Đại diện một đơn vị cung cấp thức ăn chăn nuôi cho biết lượng cám bán ra thời điểm này đã giảm 50% doanh số cho thấy lượng heo đã giảm đáng kể.

    Phương án nào cho kịch bản thiếu hụt nguồn cung thịt heo cuối năm?

    Đại diện cơ quan chức năng tỉnh Đồng Nai đã chia sẻ, trước diễn biến phức tạp của dịch ASF, địa phương này không chủ trương tái đàn bởi tiềm ẩn rủi ro cao. Cùng với đó phương án trữ thịt heo đông không khả thi bởi chi phí đầu tư quá lớn cho thiết bị cấp đông (luôn âm 40 độ C) và thiết bị rã đông để đảm bảo chất lượng nguồn thịt. Khi đó giá thành sẽ đội lên rất cao, cản trợ phương án trữ đông thịt heo.

    Còn với thực trạng lây lan với tốc độ nhanh chóng, khó khống chế dịch ASF hiện nay thì nguồn cung thịt heo sẽ sớm thiếu hụt. Trong khi nhu cầu thịt heo vẫn không thể là thực phẩm thay thế trong bữa ăn chính của người Việt. Nguồn cung sẽ thiếu hụt, giá thịt heo sẽ tăng cao.

    thit heo

    Tỉnh Đồng Nai đang khuyến khích người dân mở rộng chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản để bù đắp nguồn thực phẩm thiếu hụt từ thịt heo để cố gắng thay thế thịt heo.

    Tuy nhiên dù có bù đắp thực phẩm khác thay thế cũng khó có thể đảm bảo được lượng thịt heo thiếu hụt lớn như hiện nay. Nhưng nếu nhập khẩu thịt heo ồ ạt sẽ càng khiến ngành chăn nuôi trong nước lún sâu vào khó khăn, khó có thể phục hồi.

    Phía doanh nghiệp thì cho rằng nguồn cung thịt heo từ trang trại vẫn còn dồi dào.

  • Thị trường thịt heo hơi biến động phức tạp, lên xuống thất thường

    Thị trường thịt heo hơi biến động phức tạp, lên xuống thất thường

    Trước tác động cơn bão dịch tả heo châu Phi DTHCP) khiến thị trường thịt heo hơi tháng 7 biến động phúc tạp không đồng nhất. Giá thịt heo tăng ở những khu vực miền Bắc, miền Trung và tây Nguyên nhưng lại giảm ở khu vực miền Nam.

    Hiện tại DTHCP chưa thể kiểm soát, vẫn diễn biến phức tạp. Không ít tỉnh thành sau khi công bố hết dịch lại tiếp tục bùng phát dịch quay trở lại do chưa kiểm soát tốt công tác phòng chống dịch. Dịch bệnh chưa được phòng trừ chặt chẽ chủ yếu từ những hộ chăn nuôi cá thể nhỏ lẻ thiếu ý thức phòng chống như không triệt để khử trùng chuồng trại, sử dụng thức ăn thừa ôi thiu cho lợn… Không ít địa phương các hộ chăn nuôi hiện tại đã không tái đàn do e ngại DTHCP. Điều này sẽ không khỏi e ngại về nguồn cung thịt heo thiếu vào cuối năm 2019 sẽ giảm.

    Thời điểm cuối tháng 7, khu vực miềm Bắc giá heo hơi nhích lên từ 40.000 – 45.000đ/kg, tăng cao hơn thời điểm cuối tháng 6 khoảng 5.000 – 6.000đ/kg. Khu vực miền Trung và Tây Nguyên mức giá heo hơi dao động từ 34.000 – 40.000đ/kg, tăng cao hơn thời điểm cuối tháng 6.2019 từ 2.000 – 3.000đ/kg. Khu vực miền Nam, giá heo hơi diễn biến ngược lại, giảm mạnh trên diện rộng, chỉ ở ngưỡng 28.000 – 32.000đ/kg, thấp hơn cuối tháng 6 từ 5.000 – 6.000đ/kg.

    dich

    Từ nay đến cuối năm, dự báo người chăn nuôi sẽ ổn định tâm lý trở lại, giảm bán tháo lợn cùng với đó nguồn cung sẽ không tránh khỏi thiếu hụt, nhu cầu thịt heo trên thị trường lại tăng cao khiến giá thịt heo có thể tiếp tục tăng cao, nhất là thời điểm cuối năm.

    Năm vừa qua ngành chăn nuôi nước ta đã trải qua cuộc khủng hoảng với việc lây lan DTHCP trên cả nước. Có đến 62/63 tỉnh thành mắc dịch, duy nhất chỉ có tỉnh Ninh Thuận chưa phát hiện dịch đến thời điểm này. Tổng số lượng heo phải tiêu hủy trên 3.3 triệu con, chiếm 10% tổng đàn heo cả nước.

    Tổng cục thống kê đưa ra con số, tổng đàn heo cả nước vào tháng 6 năm nay giảm 10.3% so với cùng kỳ năm trước. Lượng heo hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm nay đạt 1.8 triệu tấn, giảm so với cùng kỳ năm trước 4.7%, riêng quý 2 năm nay chỉ đạt 796 nghìn tấn, giảm hơn so với cùng kỳ năm trước tới 12.4%.

    Với ngành chăn nuôi gia cầm khác thì phát triển ổn định, tốt, không có dịch bệnh, thị trường tiêu thụ gia cầm đảm bảo ổn định giúp người chăn nuôi yên tâm tái đàn sản xuất liên tục. Khi thời điểm quý II năm nay thịt heo diễn biến phức tạp càng khiến nhu cầu các sản phẩm từ gia cầm, trứng tăng cao hơn do người dân có tâm lý e ngại thịt heo vì dịch bệnh, chuyển sang thay thế bằng thực phẩm khác.

    Ước tính tổng đàn gia cầm cả nước trong nửa đâug năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước khoảng 7.5%. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng nửa đầu năm nay đạt 660 nghìn tấn, so với cùng kỳ năm ngoái tăng 8.6%, riêng quý II đạt sản lượng 322 nghìn tấn tăng 11.3%. Sản lượng trứng gia cầm nửa đầu năm cũng đạt 7 tỷ quả, tăng so với cùng kỳ năm trước 11.4%, riêng quý II đạt sản lượng 3.4 tỷ quả, tăn so với cùng kỳ năm trước 12.3%.

  • Mít Thái đảo chiều tăng mạnh, thương lái săn lùng đặt mua

    Mít Thái đảo chiều tăng mạnh, thương lái săn lùng đặt mua

    Những ngày này tại các tỉnh miền Tây, mít Thái đang có dấu hiệu đảo chiều tăng mạnh sau thời gian rớt giá, thương lái săn lùng đặt mua.

    Trong khoảng thời gian nửa tháng trở lại đây, giá mít Thái bất ngờ quay đầu tăng gần bằng mức giá cao kỷ lục thời điểm đầu năm 2019. Các thương lái lùng sục khắp nơi thu gom hàng để kịp cung ứng, mỗi vựa thu mua mít ở Tiền Giang phải đi thu gom chừng 2-3 ngày mới đủ hàng cho chuyến xe tải 20 tấn.

    Thời điểm này mít đang “đứt lứa’, chưa rộ đợt trái già chín. Tại Cần Thơ, các vựa cho thương lái tay em tỏa khắp nơi lùng sục thu mua, sang cả miệt vườn Hậu Giang.

    Thời điểm cách đây 1 tháng, giá mít Thái chỉ từ 11.000 – 13.000đ/kg, nhiều người cho rằng giá mít Thái rớt do thương lái ngưng thu mua.

    mit 1

    Hiện mít Thái đang vào đợt cao điểm. Tại Cần Thơ, thương lái đua nhau thu mua, giá mít tăng từng ngày. Với trái loại 1, trên 8kg/trái giá tăng 52.000đ/kg, cao gấp đôi so với thời điểm cách đó 2 tuần. Với mức giá này so với nhiều loại cây trái hay rau củ quả khác, một trái mít thường có trọng lượng 10kg nên người nông dân thu lợi mỗi trái trên nửa triệu đồng.

    Dù người nông dân đều biết cây mít Thái không thể là loại cây chủ lực bởi nếu tập trung trồng nhiều mít khi dư thừa sẽ khó tiêu thụ. Song nhiều người thì cho rằng mít là loại cây dễ trồng, với loại mít siêu sớm chỉ trồng 1-2 năm là cho trái, trồng xen trong vườn cây ăn trái hoặc ven bờ cũng không tốn nhiều chi phí.

    Do đó khi thương lái Trung Quốc tập trung thu mua cao thì giá mít tăng mạnh, được lời người nông dân đổ xô mở rộng diện tích, kể cả những vùng ngoài quy hoạch cũng tự phát mở rộng diện tích, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao.

    Năm 2018, cả nước có trên 26.100ha mít với sản lượng đạt 307 nghìn tấn. Khu vực ĐBSCL là khu vực có diện tích mít lớn nhất cả nước chiếm 10.000ha với 6.400 ha đang cho thu hoạch đạt sản lượng 114 nghìn tấn, chiếm hón 38% diện tích và hơn 37% sản lượng trên cả nước.

    Thời điểm 2 ăm 2017 và 2018 do sức hấp dẫn về giá cả của mít Thái tăng cao khiến diện tích tăng cao đẩy lên đỉnh điểm khi đầu năm 2019 đến nay diện tích mít đã tăng thêm 1.140ha, tập trung ở các tỉnh tiền Giang, Cần Thơ, Hậu Giang.

    mit

    Đại diện Cục Trồng trọt cho rằng, do lợi nhuận từ mít Thái nên người dân trong vùng đua nhau mở rộng diện tích nên tăng cao. Do vậy người dân cần hết sức lưu ý đây chưa phải lại loại cây được xác định là cây chủ lực nên sẽ chưa có hỗ trợ đầu tư cho phát triển sản xuất, đa phần đều là mở rộng diện tích tự phát.

    Việc chuyển đổi cây trồng khác sang mít rải rác, tự phát tại những địa phương tiềm ẩn nguy cơ nhiều rủi ro về điều kiện khí hậu ngập úng, mưa lũ gây thiệt hại khi hệ thống hạ tầng đê điều chưa đáp ứng đủ cũng như vùng trồng nhỏ lẻ chưa tập trung. Điều này còn tạo nguy cơ rủi ro trong công tác quản lý nông nghiệp của các địa phương, do vậy cần hết sức lưu ý và phổ biến khuyến cáo đến bà con nông dân để tránh gặp rủi ro.

  • Bão dịch tả lan đến “thủ phủ” heo, tiền tỷ bỗng chốc thành tro tàn

    Bão dịch tả lan đến “thủ phủ” heo, tiền tỷ bỗng chốc thành tro tàn

    Cơn bão dịch tả heo Châu Phi bắt đầu từ tỉnh Hưng Yên và lan ra khắp các tỉnh thành trên cả nước đến “thủ phủ” heo Đồng Nai. Hậu quả để lại là lũ lượt các trang trại cả ngàn con trúng dịch buộc tiêu hủy, tiền tỷ bỗng chốc thành tro tàn, người ngất xỉu, người khóc ngất, người liệt giường vị nỗi lo heo dịch, nợ nần chống chất.

    Cảnh tưởng bao trùm lên khu vực huyện Thống Nhất, Đồng Nai giờ là nỗi buồn u ám khi các trang trại cả nghìn con heo bỗng dưng lăn đùng ra chết.

    Chị Liên ở ấp 2, xã lộ 25 khóc nấc không thành tiếng khi nhìn nhân viên thú y lùa đàn heo đi tiêu hủy. Vừa nấc nghẹn từng cơn vừa than thở, gia đình đang mắc nợ, cố tái đàn heo bằng cách vay tiền khắp mọi nơi từ ngân hàng, bè bạn đến vay lãi xã hội những mong xuất chuồng gỡ vốn trả nợ. Nhưng khi heo gần đạt trọng lượng xuất bán thì cả đàn dính dịch. Chủ nợ dến siết, xin nợ vì heo bệnh thì bị đánh. Cứ nhìn đàn heo chết chị Liên lại khcos ngất, than trời, sắp tới biết làm sao hả trời?

    heo

    Cấp chính quyền, cán bộ thú y xác nhận trang trại của gia đình chị Liên có 80 heo nái và 800 heo thịt mắc bệnh phải đi tiêu hủy. Cả gia đình đứng ngồi không yên, đến chồng chị Liên cũng bần thần ngồi khóc chẳng biết làm thế nào, hỏi cũng không thốt nên lời.

    Cùng tình trạng đó, bà Thủy, chủ trang trại Vĩnh Bảo cũng nói trong nghẹn ngào, gia đình bà có 3 trại heo với 650 heo nái và 6.000 heo thịt. Đó là toàn bộ gia sản của gia đình bà trong suốt mấy chục năm qua vì phải xoay vòng vốn vay tiền ngân hàng để đầu tư chuồng trại, thức ăn cho heo cỡ 14 tỷ. Nghe tin dịch tả heo châu Phi nên với kinh nghiệm nhiều năm đã tiến hành mọi biện pháp cách ly, sát trùng… Thế mà cách đây 2 tuần lần lượt heo lăn đùng ra chết, có ngày chết tới trăm con. Mang mẫu đi kiểm tra thì phát hiện dương tính với heo tai xanh.  Đã có lúc bà khóc ngất xỉu, cứ nhìn heo lần lượt chết rồi chính quyền mang đi tiêu hủy.

    Suốt những tháng qua, trại heo của bà được kỹ thuật xử lý nghiêm, “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Mọi loại thức ăn cho heo, đồ ăn của người, vật dụng vào trại đều xử lý sát trùng tia cực tím trước khi vào khu chăn nuôi. Vậy mà vẫn dính dịch, bà ngỡ ngàng không hiểu nguyên nhân từ đâu.

    Bà Thủy khẳng định trại nuôi của gia đình bà mà dính dịch thì không có trại nào ở vùng không dính. Virut chắc chắn chỉ có thể lây truyền qua không khí.

    Thủ phủ chăn nuôi heo Đồng Nai đã không ít lần trải qua dịch bệnh lớn như dịch tai xanh, lở mồm long móng…. cũng để lại thiệt hại lớn nhưng đều có vắc xin hoặc biện pháp kiểm soát. Tuy nhiên lần này dịch tả heo châu Phi đến thời điểm này chưa có vắc xin, lợn chết đồng loạt số lượng lớn để lại thiệt hại nặng nề.

    Hiện trên địa bàn đã tiêu hủy hơn 102.000 con heo. Tuy nhiên với con số tổng đàn trên 2 triệu con thì người dân cần bình tĩnh để tìm cách ứng phó với dịch. Cần nâng cao đề kháng cho vật nuôi qua thức ăn, sử dụng biện pháp an toàn sinh học, các chế phẩm sinh học tăng đề kháng.

  • Chuyển đổi cơ cấu cây trồng giúp người dân bớt nhọc nhằn với cây lúa

    Chuyển đổi cơ cấu cây trồng giúp người dân bớt nhọc nhằn với cây lúa

    Thời điểm này đang vào cụ thu hoạch lúa hè thu năm nay nhưng là một năm không vui với bà con nông dân ĐBSCL bởi giá lúa không cao, lợi nhuận thấp, tiêu thụ lại khó. Vấn đề cấp bách đang đặt ra là định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng cải thiện cuộc sống cho bà con.

    Lợi nhuận thấp

    Trên cánh động lúa mênh mong với diện tích 1.7ha đang độ chín rộ, ông Ngọc (Đồng Tháp) rầu rĩ tâm sự sau 3 tháng cả gia đình dồn hết công sức vất vả vào đây cuối cùng thu lại chẳng bao nhiêu. Với mức giá hiện nay lúa tươi chỉ bán được 4.300-5.3000đ/kg, đó là mức giá đã cao hơn thời điểm trước thì vẫn không thấm gì so với công sức người nông dân bỏ ra. Chưa tính đến yếu tố thời tiết bấp bênh khiến năng suất không đạt như mong muốn.

    Cùng cảnh ngộ nhà ông Ngọc, bà Mỹ ở Đồng Nai cũng ngao ngán khi làm nông trồng lúa ngày càng cực nhọc hơn. Vụ đông xuân năm vừa rồi giá lúa đã rớt chỉ từ 4.600-5.200, tất cả trông chờ vào vụ hè thu này cuối cùng thì còn tồi tệ hơn.

    lua

    Ở An Giang, cả người dân và chính quyền cũng đau đầu với cây lúa. Thống kê ở một huyện đầu nguồn trên địa bàn tỉnh cho thấy sau khi thu hoạch lúa, trừ mọi khoản giống má, vật tư, phân bón, công cán… thì người lao động hầu như làm không công, chẳng còn dư gì. Những khoản chi tiêu của gia đình vẫn hàng ngày phải chi tiêu nên nhiều hộ lâm cảnh “ăn trước, trả sau”.

    Thống kê của Cục trồng trọt cho thấy vụ hè thu năm nay các tỉnh khu vực ĐBSCL xuống giống trên diện tích 1.56 triệu ha, giảm 42,000ha so với năm trước. Do tình hình xuất khẩu gạo bị ảnh hưởng, sản lượng giảm khoảng 19% so với năm trước nên giá lúa khu vực giảm khiến người nông dân không thu được lợi nhuận hiệu quả như mong muốn.

    Cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng bền vững

    Bộ Nông nghiệp cũng đưa ra chỉ đạo sẽ có giải pháp để tháo gỡ khó khăn với giá lúa gạo và tình hình tiêu thụ tại khu vực ĐBSCL.

    Với vụ lúa mới tới đây, Bộ đưa ra hai hướng giải quyết. Một là theo kế hoạch thì diện tích vụ thu đông sẽ tăng lên 750.000ha, tăng cao hơn 9.380ha sơ với niên vụ năm 2018, sản lượng ước đạt 4 triệu tấn, tăng 129.000 tấn. Hai là do cả hai vụ đông xuân và hè thu giá lúa đều bấp bênh, tiêu thụ chậm nên vụ đong xuân 2019 tới sẽ giảm diện tích lúa xuống 700ha, ước đạt sản lượng 3.8 triệu tấn, giảm 137.000 tấn so với năm trước.

    Với hai giải pháp đó thì hầu hết nhiều địa phương trong vùng đều ủng hộ giải pháp thứ hai, giảm diện tích trồng lúa bởi ngày càng bấp bênh, hiệu quả kém. Song song với đó là hỗ trợ người dân chuyển đổi lúa sang các cây trồng hiệu quả khác như đậu nành, ớt, bắp… và kèm theo nuối thủy sản mùa lũ để tránh rủi ro, gia tăng thu nhập cho bà con.

    Vụ hè thu năm 2019, các tỉnh ĐBSCL đã chuyển đổi hơn 66.800ha đất trồng lúa sang các loại cây trồng khác như cây ăn trái, rau màu và nuôi giá trị thủy sản mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nhiều vùng người nông dân trồng bắp đã cho lợi nhuận 80 triệu đồng/ha/vụ; dưa hấu cho lợi nhuận đạt 70 triệu đồng/ha/vụ, ớt cho lợi nhuận 50 triệu đồng/ha/vụ… còn với lúa con số thật khiến người nông dân thất vọng, chỉ đạt lợi nhuận hơn 5 triệu đồng/ha/vụ. Hơn thế còn đa dạng sản phẩm giúp cải tạo đất, hạn chế mầm bệnh.

    Tuy nhiên một hạn ché khi chuyển đổi cơ cấu cây trồng chính là quy mô nhỏ lẻ, chưa thực hiện cơ giới hóa đồng bộ nên chi phí sản xuất cao; chưa có sự liên kết với doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm nên chưa ổn định… Do đó cần đẩy mạnh hợp tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng khi tháo gỡ mọi khó khăn trên để tạo sự phát triển bền vững cho người nông dân.

  • Thị trường thịt heo dần ấm trở lại

    Thị trường thịt heo dần ấm trở lại

    Sau một thời gian dài quay lưng với thịt heo do dịch bệnh, giờ đây người tiêu dùng đang tiếp cận trở lại khiến mặt hàng này ấm dần trở lại với giá cả tăng nhẹ.

    Dạo qua các khu chợ bán lẻ tại TPHCM như chợ Hòa Bình, Thái Bình, Bà Chiểu, Thị Nghè… cho thấy mức giá bán lẻ thịt heo tương đối cao. Thịt heo đùi dao động 80.000đ/kg; thịt heo nạc, thịt ba rọi dao động 100.000đ/kg; sườn heo dao động 130.000đ/kg. Trong các siêu thị mức giá bán thịt heo ở hạng mục bình ổn thị trường dao động ơ r ngưỡng từ 95.000đ – 120.000đ/kg tùy loại thịt, ghi nhận cao hơn so với chợ truyền thống từ 10.000 – 20.000đ/kg.

    Không chỉ có mặt hàng thịt heo, các mặt hàng thực phẩm khác cũng ghi nhận tăng cao hơn. Như thịt gà tăng thêm vài nghìn đồng mỗi kg, gà công nghiệp ở ngưỡng 45.000 – 47.000đ/kg; gà ta từ 110.000 – 120.000đ/kg. Một tiểu thương kinh doanh tại chợ Thị Nghè cho biết do nhiều người dùng e ngại dịch tả nên chọn thịt gà làm thực phẩm thay theed, sức mua theo đó tăng từ 5-10%. Nguồn cung thịt gà vẫn rát dồi dào dù sức mua tăng do hiện đang là mùa hè, các bếp ăn trường học nghỉ hè nên sức tiêu thụ chung không cao, giá gà công nghiệp tại các trại chăn nuôi vẫn bình ổn.

    Với những thực phẩm tương tự như thịt bò giá cũng tăng nhẹ từ 220.000 – 240.000đ/kg.

    Các tiểu thương ở chợ cho hay thời điểm mới phát hiện dịch bệnh, người tiêu dùng hầu hết quay lưng với thịt lợn, ồ ạt chuyển sang ăn gà, cá, bò, hải sản… Tuy nhiên thời gian dịch đã quá lâu nên người tiêu dùng lại trở lại mua thịt heo vì thực phẩm này quá quen thuộc và phổ biến.

    thit heo

    Tại khu vực chợ đầu mối Hóc Môn cho thấy lượng thịt heo về chợ đều đặn mỗi ngày vẫn cao, dao động trên dưới 5.000 con mỗi ngày với mức giá heo mảnh nhích từ 3.000 – 5.000đ/kg mỗi loại. Đại diện chợ đầu mối cho biết mức giá thịt heo nhích lên so với đầu tháng và bình thường so với thị trường.

    Đại diện một cơ sở chế biến thực phẩm ở Bình Dương chia sẻ, sau thời gian dài e ngại dịch bệnh, người tiêu dùng đã bình tĩnh chứng kiến không có sự nguy hiểm của loại dịch bệnh này. Thịt heo thông thường chiếm 70% lượng tiêu thụ các mặt hàng thực phẩm thịt trong bữa ăn của người Việt nên để thay đổi thói quen này không hề dễ dàng.

    Cùng với đó giá thịt heo nhập tăng cũng tác động đến giá heo trong nước tăng. Do phía Trung Quốc tăng cường thu mua để bù thiếu hụt do dịch bệnh trong nước.

    Phía cơ quan chức năng trong nước đã có những phương án, giải pháp bình ổn thị trường với các mặt hàng thực phẩm thịt heo, thịt gia cầm.

    Phía doanh nghiệp đã có nhiều phương án đảm bảo như nhập khẩu, trữ đông, tăng đàn và tăng sản lượng nguồn cung thịt gia cầm nhằm đảm bảo nguồn cung cho sự thiếu hụt từ thị trường thịt heo.

    Phía doanh nghiệp cũng chia sẻ dù tín hiệu thị trường thịt heo đang tăng trở lại nhưng sức mua tại các chợ truyền thống vẫn còn chậm, chưa cao; sức mua thịt heo tại siêu thị có nhích tăng nhẹ. Một phần do tâm lý người tiêu dùng vẫn còn e ngại dịch bệnh nên chọn lựa kênh siêu thị cho đảm bảo an toàn.

  • Lợi thế chỉ dẫn địa lý đưa thanh long Việt vào thị trường khó tính

    Lợi thế chỉ dẫn địa lý đưa thanh long Việt vào thị trường khó tính

    Lợi thế chỉ dẫn địa lý đang là một tiêu chí góp phần không nhỏ để trái thanh long Bình Thuận có thể thâm nhập vào những thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản…

    Đại Diện Sở Nông nghiệp tỉnh Bình Thuận chia sẻ trái thanh long trên địa bàn năm nay được giá, xuất sang nhiều thị trường lớn nhờ có chỉ dẫn địa lý cũng như chất lượng quả được nâng cao.

    Tại những vựa thanh long lớn ở Bình Thuận, trái cây này đang được rao bán với mức giá cao hơn nhiều so với thời điểm những năm tước. Trung bình giá thanh long dao động từ 17.000 – 20.000đ/kg. Thời điểm đầu tháng 6 vừa qua còn ghi nhận mức giá cao kỷ lục của thanh long khi giá tại vườn đạt 30.000đ/kg, nhiều ngày còn tăng cao lên 32.000đ/kg.

    thanh long 1

    Đại diện sở Nông nghiệp cho biết yếu tố chỉ dẫn địa lý đóng vai trò quan trọng trong phát triển trái thanh long. Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý là khẳng định uy tín, vị thế với doanh nghiệp xuất khẩu, với người trồng thanh long cho loại quả truyền thống này. Chỉ dẫn địa lý là giá trị và lợi ích thiết thực của doanh nghiệp cũng như người trồng thanh long. Với thị trường xuất khẩu khó tính thì chỉ dẫn địa lý chính yếu tố quan trọng khẳng định chất lượng của thanh long Việt so với các sản phẩm của các quốc gia khác trên thế giới.

    Chỉ dẫn địa lý cho trái thanh long Bình Thuận là nhãn hiệu “Bình Thuận Dragon Fruit và hình trái thanh long” tới 14 nước và vùng lãnh thổ có thị trường tiềm năng. Hiện nay đã có 12 nước cùng vùng lãnh thổ chấp thuận bảo hộ nhãn hiệu dưới hình thức chứng nhận, nhãn hiệu tập thể là các quốc gia như Mỹ, Đức, Anh, Hà Lan, Nhật…

    Trên địa bàn tỉnh có 83 tổ chức, cá nhân sản xuất thanh long được cấp chỉ dẫn địa lý. Đồng thời có 6 đơn vị được tỉnh hỗ trợ kinh phí dán tem chỉ dẫn địa lý lên 40 triệu trái thanh long khi xuất khẩu ra nước ngoài cũng như tiêu thụ trong nước.

    thanh long

    Trái thanh long Bình Thuận đa phần hướng đến thị trường nước ngoài (xuất khẩu chiếm khoảng 80-85%). Do đó, tỉnh đã thực hiện quy hoạch diện tích cây trồng này đạt 28.000ha vào năm 2020 với năng suất ước đạt 28 tấn/ha cho sản lượng chừng 750.000 tấn mỗi năm. Đến năm 2030 thì quy mô mở rộng quy hoạch thanh long đạt 30.000ha với năng suất ước đạt 30 tấn/ha cho sản lượng chừng 843.000 tấn mỗi năm.

    Định hướng quy hoạch thanh long mà tỉnh hướng tới là tập trung sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn VietGAP, GlobalGAP với tiêu chí tăng diện tích sản xuất thanh long an toàn năm 2020 đạt hơn 50% và năm 2026 đạt tới 75%.

    Dự tính đến năm 2020 các đơn vị xuất khẩu thanh long sẽ đạt con số 20-25 triệu USD xuất khẩu chính ngạch. Hướng tới năm 2025 sẽ đạt chừng 50-60 triệu USD xuất khẩu.

    Nhờ trái thanh long giúp người dân nâng cao thu nhập, chỉ 6 tháng đầu năm 2019 thu nhập của người trồng thanh long đã tăng coa hơn năm 2019 và tương lai dự kiến tiếp tục tăng nhờ thị trường xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc tăng. Với giá thành 15.000đ/kg, lợi nhuận đạt được trung bình khoảng 200 triệu đồng/ha. Khi chỉ dẫn địa lý giúp thanh long tiếp cận nhiều thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, Đài Loan, Úc… thì hứa hẹn giá trị trái thanh long sẽ càng nâng cao.

  • Tương lai sầu riêng liệu có rơi vào cảnh “giải cứu”?

    Tương lai sầu riêng liệu có rơi vào cảnh “giải cứu”?

    Sau một thời gian dài sầu riêng liên tục được giá, mang lại nguồn thu nhập tốt cho người trồng, nhiều khu vực người dân đổ xô trồng các giống sầu riêng khác nhau khi điẻnh điểm giá saaud riêng tại vườn có thời điểm lên đến 110.000đ/kg. Tuy nhiên từ đầu năm 2019 đến nay ghi nhận sầu riêng đang có dấu hiệu chững lại và đi xuống.

    Câu hỏi đang đặt ra là với tốc độ tăng trưởng sản lượng 10-20% mỗi năm như hiện nay thì các năm tới sầu riêng có rơi vào tình cảnh “bội thực”, cần “giải cứu”?

    Thời điểm trước năm 2015. mức giá sầu riêng tại vườn chỉ dao động từ 25.000 – 30.000đ/kg, mức giá sầu riêng lẻ tại Đà Lạt dao động ở ngưỡng 50.000đ/kg. Thời điểm đó có vụ sầu riêng lên giá 29.000đ/kg đã khiến bà con vô cùng phấn khởi hồ hởi.

    sau rieng 1

    Thời điểm năm 2016 đánh dấu mốc quan trọng khi Trung Quốc bắt đầu thu mua sầu riêng Việt, không ít người nông dân đã ồ ạt đổ xô đi trồng sầu riêng. Thống kê năm 2016 cho thấy thời điểm diện tích sầu riêng khoảng 32.2 nghìn ha cho sản lượng khoảng 336.9 nghìn tấn. Không ít hộ nông dân phá bỏ các loại cây trồng khác như hồ tiêu dể chuyển sang trồng sầu riêng.

    Thế nhưng niềm vui chẳng tày gang khi sau 3 năm liên tiếp sầu riêng tăng giá, nhiều thời điểm lên đến 110.000đ/kg thì vào đầu năm 2019 sầu riêng bắt đầu rớt giá. Khi lưa sầu riêng người dân phá các cây trồng khác chuyển đổi năm 2016 đến nay cho trái thì gặp ngay tình cảnh này, giá sầu riêng tại vườn năm 2019 rớt xuống còn 29.000đ/kg. Tại Tiền Giang, diện tích sầu riêng năm 2015 chỉ khoảng 2.000ha thì đến năm 2018 diện tích sầu riêng đã tăng 65% lên tới 3.250ha.

    Mặc dù người trồng đã được cảnh báo về khả năng dư thừa sản lượng sầu riêng trong tương lai nhưng so với nhiều loại cây trồng khác, sầu riêng vẫn mang lại giá trị kinh tế cao.Với tốc độ gia tăng mạnh mẽ ấy, dạo qua các diễn đàn cây giống thì sầu riêng vẫn là loại cây có giao dịch sôi sộng với mức giá cây giống không hề rẻ.

    sau rieng

    Nhiều loại giống sầu riêng cho năng suất cao được quảng cáo như Monthong, Mustaking được chào bán và rất nhiều giao dịch thành công với số lượng lớn. Chị tâm, chủ vựa sầu ở Lộc Thành, Bảo Lâm, Lâm Đồng chia sẻ, sầu riêng hiện được người dân trồng vô tội vạ, nhiều vùng họ phá hết tiêu, mít, cà phê, bơ… để trồng sầu. Tương lai chỉ 3 năm nữa sản lượng sầu sẽ nhiều vô kể, lúc đó có lẽ chẳng ai nhúng thuốc sầu riêng nữa vì nhứng thuốc đội giá cao, không cắt non, khi đó nhà vườn sẽ neo trái già để bán được giá.

    Vì lợi nhuận trước mắt mà nhiều hộ hân đua nhau phá nhiều loại cây trồng khác để trồng sầu mà chưa lường trước hậu quả.

    Về hướng chỉ đạo cân đối cơ cấu cây trồng đã được các cấp quản lý thực hiện khi có hàng loạt các công văn chỉ đạo gửi đến từng Sở Nông nghiệp các tỉnh, thành. Nội dung công văn nêu rõ các sở cần đánh giá chính xác các tiêu chí trồng sầu riêng trong đó có khâu liên kết tiêu thụ đầu ra sản phẩm, tránh việc trồng ồ ạt đến khi thu hoạch bí đầu ra.

    Thế nhưng người nông dân nhiều vùng xưa nay vẫn có thói quen tự phát, trồng theo nhu cầu và sở thích cá nhân. Do đó nhiều câu hỏi đặt ra là khi sầu riêng đang được giá thì đổ xô trồng nhiều nhưng đến khi thu hoạch liệu có còn giá hay lại rơi vào tình trạng “giải cứu”?

  • Vảy cá khô giúp người dân kiếm bộn tiền ở Đồng Tháp

    Vảy cá khô giúp người dân kiếm bộn tiền ở Đồng Tháp

    Dù chưa biết thương lái thu gom vảy cá khô cho mục đích gì nhưng hành động này đã giúp cho gần 200 hộ dân chuyên làm khô ở Phú Thọ, Tam Nông, Đồng Tháo có thêm nguồn thu nhập tốt. Việc thu gom vảy cá lóc, cá sặc bỏ đi này cũng góp phần giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường của vùng do vảy cá thải ra.

    Từ sau Tết đến nay, hoạt động thu gom, bán vảy cá diễn ra khá ổn định, vừa mangd dến nguồn thu cho bà con trong cùng vừa giảm ô nhiễm môi trường.

    Ông Năm, chủ một cơ sở chuyên khô cá chia sẻ, mỗi ngày cơ sở ông tiêu thụ chừng 800 – 900kg các lóc nguyên liệu để làm khô cá và theo đó thải ra môi trường chừng 70-80kg vảy cá. Trong suốt nhiều năm làm khô cá, vảy cá là phế phẩm không biết xử lý cách nào đều phải mang đổ lại ra kênh chứa đất trống sau nhà. Khu vực đổ vảy cá này bốc mùi hôi thối. Tuy nhiên từ Tết đến nay ông rất vui mừng vì xuất hiện thương lái đến thu mua, vừa có tiền lại không bị ô nhiễm.

    vay ca

    Thời gian đầu, thương lái đi ô tô biển Tiền Giang, biển Sài Gòn đến thu mua vảy cá tại nhà giá 6.000 – 7.000đ/kg. Sau đó, họ không trực tiếp về nữa mà giao cho một vài hộ chính trong làng làm đầu nậu thu gom, mức giá giảm còn 4.000 – 5.000đ/kg nhưng thu mua vô tận, không giới hạn số lượng vảy cá.

    Vừa cân cho người thu gom 120kg vảy cá, ông Thức, chủ cơ sở khô cá có chừng 10 công nhân chia sẻ, cứ 10kg cá nguyên liệu cho ra chừng 1kg vảy cá. Suốt chục năm làm khô cá ông đều phải đổ đi, đến nay bán được 40.000 – 50.000đ/kg nên mỗi ngày cũng thu ngót nửa triệu đồng.

    Thế nhưng người dân cũng chỉ biết thương lái thu gom mua tất cả vảy cá người dân có, còn thương lái thu gom vì mục đích gì thì người dân cũng hoàn toàn không biết. Những đầu nậu đứng ra thu gom vảy cá cho thương lái cũng không biết hoặc họ không tiết lộ.

    Chị Liên, một đầu nậu chia sẻ, chị cũng được thương lái thuê đi thu gom vảy cá về tích trong kho nhà khoảng 2-3 hôm họ đánh xe tải về chở đi một lần rồi thanh toán tiền. Thương lái cũng chỉ dừng lại ở thỏa thuận như vậy và không nói gì thêm về việc thu gom vảy cá cho mục đích gì.

    vay ca 1

    Ở nhiều làng chuyên khô cá tại các huyện như Hồng Ngự, Thanh Bình (Đồng Tháp); Tân Phú, An Phú (An Giang) cũng đang diễn ra tình hình thu gom vảy cá tương tự.

    Đại diện phòng Nông nghiệp huyện Tam Nông cho hay đã nắm được tình hình thu gom vảy cá nhưng thực tế chưa thấy dấu hiệu vi phạm pháp luật mà trước mắt đang có lợi khi mang lại thu nhập cho người dân và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nên không can thiệp. Tình hình nuôi cá cũng như làm khô cá ở các địa phương này cũng không có gì biến động.

    Mục đích sử dụng vảy cá của thương lái thì cả phía công an vào cuộc tìm hiểu những cũng chưa có thông tin rõ ràng. Bởi những đầu nậu thu gom không biết, những thương lái ở nơi xa đến cũng dè dặt và qua nhiều trung gian nên không ai tiết lộ.

  • Hướng đến an toàn sinh học trong chăn nuôi để đối phó với thiệt hại nặng nề sau dịch bệnh

    Hướng đến an toàn sinh học trong chăn nuôi để đối phó với thiệt hại nặng nề sau dịch bệnh

    Ngành chăn nuôi nước ta vừa chứng kiến một đại dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã gây thiệt hại nặng nề cho nhiều hộ dân. Tính đến thời điểm hiện tại 62/63 tỉnh thành trên cả nước đã xuất hiện dịch bệnh với số lợn bị tiêu hủy lên đến 3.3 triệu con chỉ trong vòng 160 ngày.

    Thống kê mới nhất từ Bộ NN&PTNT cho thấy từ tháng 2.2019 đến ngày 8.7.2019 cho thấy có tới 5.422 xã của 513 huyện trên 62 tỉnh thành đã mắc DTLCP. Hiện duy nhất trên cả nước chri còn tỉnh Ninh Thuận tạm thời chưa xuất hiện dịch bệnh.

    Đây là một đại dịch nguy hiểm, khó ứng phó, chưa có thuốc điều trị triệt để cũng như hoàn toàn chưa có vắc xin phòng bệnh. Loại virut DTLCP tồn tại rất lâu bên ngoài môi trường, khó kiểm soát với tốc độ lây lan cao, phức tạp qua nhiều hình thức khiến các hộ chăn nuôi lợn theo hình thức nhỏ lẻ tự phát với mật độ lợn nhiều khó áp dụng được biện pháp an toàn sinh học để phòng tránh dịch bệnh..

    Nguy cơ lây lan và phát sinh của dịch bệnh này chưa có dấu hiệu dừng lại. Bởi chúng dễ lay lan phát tán đến vùng chưa có dịch cũng như tái dịch ở những ổ bệnh cũ, nguy cơ lây lan xâm nhiễm đến các cơ sở chăn nuôi tập trung với quy mô lớn.

    chan nuoi

    Không ít các trang trại chăn nuôi quy mô hàng nghìn con lợn đã phát hiện mắc DTLCP. Như ở thủ phủ chăn nuôi heo tại Đồng Nai đã có trang trại chăn nuôi quy mô 20.000 con lợn phát hiện xuất hiện dịch bệnh.

    Với tốc độ lây lan nhanh và vô cùng nguy hiểm của dịch bệnh này, Bộ NN&PTNT đã tổ chức Hội nghị triển khai các giải pháp tổng thể phòng chống dịch tả lợn châu Phi. Tại hội nghị, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường đã nêu rõ chưa từng có loại dịch bệnh nào gây thiệt hại lớn và nặng nề, khó khăn trong quá trình ứng phó như DTLCP. Chưa từng có dịch bệnh nào mà cả hệ thống chính trị phải vào cuộc, liên tục thay đổi chỉ đạo đến từng địa phương để linh hoạt sáng tạo, ứng phó với dịch bệnh.

    Đến thời điểm hiện tại đã trải qua 160 ngày từ ngày ổ dịch đầu tiên xuất hiện ở địa bàn Hưng Yên đến nay duy nhất chỉ còn 1 tỉnh chưa xuất hiện dịch bệnh. Thiệt hại với DTLCP là vô cùng nặng nề với ngành chăn nuôi, đặc biệt là với các hộ chăn nuôi cá thẻ nhỏ lẻ. Kế đến là các chi phí trong phòng chống, tiêu hủy với những heo bệnh trên toàn quốc.

    Không ít các tỉnh thành đã dành toàn bộ ngân sách dự trữ dồn vào phòng chống dịch bệnh nhưng cũng chỉ đáp ứng được một phần thiệt hại. Diễn biến với dịch bệnh này chưa dừng lại mà chúng ta đang phải xác định “sống chung” với dịch bệnh này.

    Thời điểm hiện tại, vũ khí duy nhất để ứng phó với dịch bệnh này là an toàn sinh học. Phương pháp này không chỉ để ứng phó trong chăn nuôi lợn mà với toàn ngành chăn nuôi nói chung. Thực tế cho thấy những đàn lợn tại trang trại lớn xuất hiện DTLCP được xác định là trang trại nuôi nhiều lợn chứ chưa nuôi theo hướng an toàn sinh học. Còn với nhiều đơn vị trang trại, công ty quy mô lớn áp dụng chặt chẽ biện pháp an toàn sinh học thì đều ghi nhận đảm bảo an toàn. Những hộ chăn nuôi áp dụng các giải pháp phòng chống sáng tạo cũng an toàn.

    Ngay từ thời điểm xuất hiện dịch bệnh, nhiều đơn vị khoa học đã vào cuộc nghiên cứu vắc xin và đến nay đã bước đầu ghi nhận kết quả. Đơn vị đang tiến hành thí nghiệm trên diện rộng để nếu thành công sẽ nhân rộng sản xuất thương mại, Bộ trưởng Cường chia sẻ.