Category: Thị Trường Nông Sản

  • Khép lại thời gạo xuất khẩu bao tải, gạo Việt dán logo “xịn”

    Khép lại thời gạo xuất khẩu bao tải, gạo Việt dán logo “xịn”

    Năm 2018 tới đây, thương hiệu gạo Việt sẽ hoàn thành chương trình xây dựng thương hiệu Quốc gia. Sẽ không còn những bao tải đóng gói trong xuất khẩu mà tất cả được in logo sản phẩm với thương hiệu quốc gia Việt Nam trên bao bì khi xuất khẩu.

    Máy đo độ ẩm

    Máy đo độ ẩm không khí

    Theo lãnh đạo Vụ hợp tác Quốc tế – Bộ Nông nghiệp, chương trình xây dựng thương hiệu quốc gia đang khẩn trương hoàn thiện và tới năm 2018 sẽ được đưa và thực hiện.

    Với chương trình này được xây dựng sẽ nâng cao giá trị cho gạo Việt. Với việc hình ảnh gạo Việt ra thị trường được dán đầy đủ nhãn mác, logo nhận diện sẽ tăng sức cạnh tranh và khả năng tiếp thị cao với thị trường quốc tế, nâng cao hiệu quả trong sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của nước ta.

    Lãnh đạo Viện Khoa học nông nghiệp kỹ thuật miền Nam cho rằng, Việt Nam xuất khẩu gạo nhiều nhưng đa phần các nước chỉ biết đến gạo trắng và tỷ lệ tấm trong gạo. Gạo xuất khẩu ra nước ngoài đa phần nằm trong bao tải, thậm chí còn mang mác của nước khác với nhãn của nước nhập khẩu đó.

    Vị này đặt vấn đề, chính tại thị trường nhập khẩu gạo lớn của nước ta là Trung Quốc với sản lượng mỗi năm đạt hơn 3 tấn thế nhưng đi khắp thị trường Trung Quốc không thể thấy bóng dáng của loại gạo nào có nhãn mác Việt Nam hoặc nêu nguồn gốc từ Việt Nam.

    Khi doanh nghiệp còn xuất khẩu kiểu ngẫu hứng, tự do và xuất thô chủ yếu vào bao tải như vật thì người nông dân càng mất định hướng tìm kiếm sản phẩm sản xuất chi phù hợp với đòi hỏi của thị trường nhập khẩu và của người tiêu dùng nước đó.

    Với vấn đề này, lãnh đạo Vụ hợp tác quốc tế cũng cho hay, bởi xuất khẩu gạo của ta đa phần theo đường tiểu ngạch, xuất qua biên giới nên sản phẩm không được đóng nhãn mác cũng như ghi rõ xuất xứ, nguồn gốc sản phẩm. Từ nay đến năm 2030, chúng ta cần có những đàm phán để chuyển xuất khẩu tiểu ngạch sang xuất khẩu chính ngạch. Điều đó còn phụ thuộc vào doanh nghiệp cũng như chính phủ hai nước.

    Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp, TS Bùi Bá Bổng cho hay, nguyên nhân của xuất khẩu gạo hiện chư đạt hiệu quả như mong đợi bởi doanh nghiệp “mua xô” đầu vào. Vì vậy, nông dân không cần chú ý chất lượng mà cứ sản xuất gạo theo hướng đại trà thông dụng nhất, kể cả việc lạm dung thuốc BVTV hay phân bón…

    Bởi nông dân có sản xuất theo hướng bền vững hay lạm dụng thuốc thì giá bán nguyên liệu thành phẩm vẫn ngang nhau. Nên không thể có những sản phẩm chất lượng cao, đồng bộ được, ông Bổng cho hay.

    Mười năm trước đây, với công đoạn thu hoạch và tiến hành sấy khô với lúa gạo là vấn đề nan giải thì nay được giải quyết khá dễ dàng. Nếu kết hợp được mô hình máy cấy liên hoàn cũng như kết hợp phun xịt thuốc hoặc bón phân đồng bộ sẽ là hướng mới tốt cho người  nông dân.

    Bởi khi chuyên nghiệp hóa, máy móc thay thế sức người sẽ giảm sức lao động, giảm được số lượng giống sử dụng trên đồng ruộng, cây lúa sẽ lên đều và dễ trong chăm sóc…Tiến tới việc công nghiệp hóa trong sản xuất cây lúa và trong chế biến gạo xuất khẩu, ông Bổng chia sẻ thêm.

  • Con giống – “tử huyệt” trong nông nghiệp nước nhà

    Con giống – “tử huyệt” trong nông nghiệp nước nhà

    Nước ta là một nước thuần nông nhưng một vấn đề đã nhiều năm chưa thể khắc phục mà còn được xem là “tử huyệt” của nền nông nghiệp đó chính là con giống. Chúng ta còn đang phụ thuộc rất lớn vào việc nhập khẩu cây, con giống. Nhiều hội thảo đã diễn ra để bàn về vấn đề tự chủ con giống nhưng chưa có kết quả cụ thể, vẫn chỉ là những tranh luận và đóng góp trên giấy tờ.

    Bán Kit thử nhanh

    Kit thử nhanh

    Kit thử nhanh an toàn thực phẩm

    Loạn về giống

    Vừa qua, tại một hội thảo về nông sản tổ chức tại TPHCM, một lãnh đạo Bộ Nông nghiệp đãnêu lên nguy cơ về mất thị trường xuất khẩu nông sản của nước ta không chỉ nằm ở vấn đề kỹ thuật mà các quốc gia nhập khẩu yêu cầu mà chính ở sự suy thoái của giống gây nên chất lượng sản phẩm giảm sút.

    Hàng loạt các hội thảo về giống và chất lượng của nông sản đều nhận được những cảnh báo về tình hình con giống của nước ta.

    Ngành mía đường là một ví dụ điển hình. Trong khi ngành này đang nỗ lực để Chính phủ duy trì thuế 5% với mặt hàng này sau 2018 để chuẩn bị cho vuệc cạnh tranh với các nước trong ASEAN, trong đó chủ yếu là Thái Lan. Giống là một khâu cản trở cạnh tranh của ngành này.

    Hồi tháng 9 vừa qua, tại hội thảo về giống mía, ông Cao Anh Đương, Viện trưởng Viện nghuên cứu mía đường Việt Nam (SRI) đã khẳng định không có quốc gia nào như chúng ta khi có quá nhiều giống mía nhập khẩu. Nhiều thời điểm, nước ta nhập 1.400 giống mía từ nước ngoài, con số cho thấy sự đi ngược dòng so với xu thế của thế giới.

    Ông Đương đưa ra những dẫn chứng cụ thể như Thái Lan, một nước có thế mạnh về xuất khẩu đường chỉ tập trung vào một vài giống chủ lực (7 giống) và Úc chỉ có 10 giống; Trung Quốc có 10 giống và nước ta lên tới 62 giống nhưng không có giống nào chủ chốt. Do đó mà chữ đường (CCS) của mía nước ta luôn dưới 10.

    Với ngành lúa cũng chẳng khác là bao. Thống kê từ Cục Trồng trọt – Bộ NN&PTNT cho thấy, mỗi vụ ở ĐBSCL có tới 160 đến 200 giống lúa được gieo trồng. Đó là nguyên nhân gây giảm sút chất lượng lúa gạo của nước ta so với nhiều nước khác trong khu vực. Và gạo Việt chỉ nằm ở phân khúc hạng trung với giá thấp và thị trường xuất khẩu chính chỉ là Trung Quốc, các nước Châu Phi và khối ASEAN.

    Đã nhiều hội thảo của các bộ, ban ngành về việc chọn giống chủ lực nhưng chưa đi đến kết quả cuối cùng. Bởi trong hàng trăm giống lúa ấy không có giống nào vượt trội về năng suất cũng như chất lượng để có thể chọn làm giống chủ lực.

    Dẫn chứng về ngành mía đường và ngành lúa gạo đã nói lên tổng quan ngành nông nghiệp nức ta đang quá nhiều giống nhưng không có giống chủ chốt.

    Hợp tác công – tư?

    Thời gian gần đây, nhiều cuộc khởi nghiệp nông nhiệp thu hút đầu tư nhưng đa phần tập trung cho ra thành phẩm, chưa có dự án nào tập trung vào giống nông nghiệp.

    Theo lãnh đạo Sở Nông nghiệp TPHCM cho hay, dù địa bàn thành phố có nhiều Viện, trường nhưng cũng không thấy những nghiên cứu mới về giống. Các doanh nghiệp thì chủ yếu nhập khẩu giống về bán chứ không tiến hành lai tạo hay sản xuất.

    Con số 12/267 giống được sản xuất trong nước trên tổng số giống nhập khẩu cho thấy con số khiêm tốn của con giống trong nước.

    Giáo sư Bùi Chí Bửu – nguyên Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam cho hay, cần học hỏi từ mô hình thành công của các nước hơn là tranh luận. Ông cho hay, bởi tốn kém nên doanh nghiệp chỉ dám nhập cho chắc chứ không dám đầu tư. Còn phía Nhà nước thực hiện thì đa phần thua lỗ. Vậy nên chăng chúng ta nên kết hợp hợp tác công tư (PPP) – Nhà nước bắt tay cùng làm với doanh nghiệp. Mô hình này đang hiệu quả ở nhiều nước như Nhật, Hàn và nhất là người hàng xóm Thái Lan đã áp dụng hiệu quả để trở thành trung tâm giống lớn nhất khu vực.

    GS Bửu thông tin, hiện Thái Lan đang đứng đầu ASEAN và thứ 3 Châu Á cũng như thứ 12 trên thế giới về sản xuất và xuất khẩu giống. Đó là kết quả của sự hợp tác nhịp nhàng công – tư. Đó là mô hình thế giới thành công thì Việt Nam sẽ thành công nên cần áp dụng càng sớm càng tốt.

  • Hãy hành động, đừng xin giải cứu!

    Hãy hành động, đừng xin giải cứu!

    Hàng loạt các vụ “giải cứu” thời gian qua đã khiến doanh nghiệp và người tiêu dùng cảm thấy nhàm. Vừa qua, sản phẩm khoai mì đang xin cơ chế để tạm trữ đang tỏ rõ thực trạng yếu kém trong khâu định hướng sản xuất cũng như đặt ra những nghi vấn trong định hướng phát triển của thị trường nông sản Việt.

    Bán Kit thử nhanh

    Kit thử nhanh

    Kit thử nhanh an toàn thực phẩm

    Với mặt hàng nông sản khoai mì (sắn) được đánh giá là cây chủ lực, thuộc nhóm những mặt hàng xuất khẩu tỷ đô nhưng giờ đây lại mong muốn xin vào nhóm danh sách những cây trồng cần có giải pháp hỗ trợ như cây lúa, cây mía, cây cà phê, cây chuối…

    Khi đều xuất xin cơ chế tạm trữ này của Hiệp hội Sắn được phê duyệt, tới mù vụt hu hoạch khoai mì sẽ tiến hành mua tạm trữ khoai mì, phía ngân hàng phải tăng cường thêm vốn còn phía nhà nước thì cần hỗ trợ vốn vay ưu đãi.

    Không chỉ dừng lại ở đó, khi áp dụng thực tiễn sẽ xảy ra những mâu thuận cục bộ về vùng được tạm trữ nhiều, vùng tạm trữ ít và ai là người đứng ra phân bổ số lượng khoai mì được tạm trữ ấy…

    Chắc chắn sẽ không thể không có những “lời ong tiếng ve”, khó tìm được tiếng nói chung hay tìm được công bằng… như cũng đã từng xảy ra với nhiều những sản phẩm hưởng chính sách hỗ trợ khác.

    Bài học về “giải cứu” nông sản, gần đây là “giải cứu” khoai mì đặt ra những câu hỏi trong định hướng phát triển nông sản Việt.

    Những câu hỏi về hoạt động sản xuất, xuất khẩu chưa bền vững; Nhà nước, cơ quan chức năng có can thiệp như thế nào, tất cả nông sản hay chỉ một số mặt hàng?

    Thực tế cũng chỉ rõ, hiếm có loại cây trồng hay con vật nào được hưởng những hỗ trợ, ưu ái và “giải cứu” có thể phát triển tốt. Giải pháp tốt nhất cần để nó tự vận động, tự làm quen thị trường, tự cạnh tranh đào thải theo quy luật thì sản phẩm đó, ngành nghề đó mới có thể đứng vững và phát triển bền vững.

    Khi khoai mì trong danh sách hỗ trợ thì những người trồng tiêu, trồng điều và vô số mặt hàng nông sản khác cũng mong muốn có mặt trong danh sách trợ giúp đó.

    Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, thách thức thị trường ngày càng lớn, những biến động là hoàn toàn không thể tránh. Do đó, các nhà quản lý, chức năng thay vì chạy theo sự biến động để “giải cứu” cần tăng cường sự chủ động,minh bạch với những sản phẩm được hỗ trợ gắn chặt với điều kiện cụ thể mới có thể hưởng chính sách như chất lượng; quy trình; liên kết hiệp hội… không gây mất công bằng cho các sản phẩm nông sản khác. Ngoài ra cần có bộ tiêu chí trong hỗ trợ, “giải cứu”, tránh tình trạng mệnh ai “to mồm” kêu thì sẽ thắng.

    Tính về lâu dài, không thể để những sản phẩm trong danh sách hỗ trợ kéo dài thêm bởi vàng như vậy càng tạo ra tiền lệ xấu về sức ỳ, trông chờ, không có sự chủ động, tính toán.

    Như vậy sẽ càng tạo thế bất lợi cho sản phẩm và ngành nghề đó cũng nhanh chóng bị thị trường đào thải bởi không có sự cải tiến để cạnh tranh, thích ứng với thị trường.

    Như vậy,cần có một giải pháp để loại bỏ hội chứng “giải cứu”; bắt buộc mọi ngành nghề, doanh nghiệp, người sản xuất phải tự bươn chải, thích ứng để đáp ứng nhu cầu thị trường, thay vì càng “giải cứu” lại càng bế tắc.

  • Nông sản Việt phần lớn phục vụ gã khổng lồ Trung Quốc

    Nông sản Việt phần lớn phục vụ gã khổng lồ Trung Quốc

    Chỉ tính đến thời điểm tháng 10 năm 2017, nông sản Việt xuất sang Trung Quốc có kim ngạch đạt 7.3 tỷ đô la, tăng cao hơn kim ngạch của cả năm 2016 là 6.8 tỷ đô la.

    Máy đo nồng độ co2

    Máy đô nồng độ co2 trong không khí

    Ngoài các mặt hàng truyền thống như rau, hoa quả, gạo, cao su, đồ gỗ… những mặt hàng mới như thịt, sữa, hạt ngũ cốc, cà phê… cũng đang chiếm lĩnh nhiều thị phần tại đất nước này.

    Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn trong lĩnh vực nông sản của Việt Nam.

    Thị trường giàu tiềm năng

    Thông tin từ Cục chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp), hết tháng 10/2017, mặt hàng rau quả đã vươn lên dẫn đầu trong xuất khẩu sang Trung Quốc với kim ngạch đạt xấp xỉ 2.17 tỷ đô; cao su đạt 1.13 tỷ đô và thủy sản, gạo đạt 908 và 909 triệu đô.

    Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc cho hay, kim ngạch xuất khẩu hai chiều giữa hai nước ngày càng tăng, nhất là lĩnh vực nông sản. Nước ta bỏ xa Malaysia trở thành đối tác thương mại lớn nhất Đông Nam Á đối với Trung Quốc. Ngoài mặt hàng gạo, các loại trái cây như dưa hấu, thanh long, vải chiếm thị phần khá lớn. Thủy sản hiện đang chiếm thị phần tương đối tại thị trường này.

    Vị đại sứ này cũng cho hay, mặt hàng sữa đang được thị trường này đánh giá cao, người tiêu dùng Trung Quốc sang Việt Nam du lịch đều mua sữa chua về.

    Không bỏ lỡ cơ hội này, hai “ông lớn” của Việt Nam là TH và Vinamilk đã và đang hoàn tất thủ tục, sớm xuất khẩu sang thị trường này.

    Với mặt hàng thủy sản, đã có thỏa thuận về vệ sinh an toàn thực phẩm, phía Trung Quốc đã công nhận 646 đơn vị và 5 đơn vị được xuất khẩu tôm sú sống. riêng nghêu và cá rô phi chưa được chấp nhận đưa vào danh mục cho phép nhập khẩu.

    Riêng rau quả bứt phá ngoạn mục và tiếp tục chiều hướng tăng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này. Với 8 mặt hàng chủ đạo hiện nay như thanh long, dưa hấu, xoài, nhãn, vải, chôm chôn, mít và chuối. Bưởi đang được xúc tiến để được cấp phép.

    Mặt hàng gạo đã được cấp phép cho 23 đơn vị và 9 đơn vị đang chờ kiểm tra, đánh giá.

    Mất dần thương hiệu

    Nhận định về tiềm năng và triển vọng của nông sản Việt sang Trung Quốc còn khá lớn nhưng Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc cũng tỏ ra lo ngại vì nhiều vấn đề bất cập.

    Thủ tục thông quan, phía Trung Quốc tiến hàng nhanh gọn với khâu kiểm tra “3 trong 1”. Mùa cao điểm xuất khẩu thì các cửa khẩu này tăng thời gian để đảm bảo cho hàng hóa lưu thông. Nhưng phía Việt Nam thì vẫn còn những rào cản về thủ tục chưa thông thoáng nên gây ùn tắc. Nhiều thời điểm khu vực cửa khẩu ùn tắc hàng nghìn xe.

    Khâu sản xuất đóng vai trò quan trọng bởi chất lượng sản phẩm. Có những lô hàng dưa hấu ruột trắng ởn thì không ai có thể nhập khẩu. Đây là mặt hàng dễ nhưng không đảm bảo chất lượng thì không ổn.

    Hiện, các mặt hàng nào chưa xuất khẩu được sang thị trường này thì cần xem xét vấn đề tiêu chuẩn chất lượng, kỹ thuật. Với thịt lợn chưa xuất sang được theo đường chính ngạch là vậy.

    Cùng với đó, Tổng lãnh sự Việt Nam tại Nam Ninh đang tỏ ra lo ngại về thương hiệu. Bởi nhiều nông sản Việt chiếm thị phần lớn ở nước này nhưng quá trình xây dựng thương hiệu rất yếu, kể cả mặt hàng cà phê tên tuổi.

    Người tiêu dùng Trung Quốc ưa chuộng thương hiệu. Nhưng nông sản của ta không có thương hiệu ở thị trường này. Hoa quả nước ta bán ở Quảng Tây nhiều nhưng cửa hàng bán hoa quả lại lấy thương hiệu Thái Lan hoặc không thương hiệu. Hàng chúng ta chỉ đưa lên cửa khẩu, xuất sang là xong, phía Trung Quốc mang về nhiều khi còn đóng lại bao bì khác và lấy nhãn hiệu khác.

    Hàng nông sản Việt cũng chưa có chỗ đứng trong siêu thị Trung Quốc. Dù đưa vào khó khăn nhưng cần phải tính toán để làm thương hiệu.

  • Miền Bắc giảm sản lượng lúa, lãnh đạo nói gì?

    Miền Bắc giảm sản lượng lúa, lãnh đạo nói gì?

    Đang rộ lên tin về miền Bắc bị mất mùa vụ lúa năm nay khiến giá tăng vùn vụt, có ý kiến còn cho rằng tình trạng đói kém có thể diễn ra. Cục trưởng Cục trồng trọt – ông Nguyễn Hồng Sơn có ý kiến ra sao về vấn đề này?

    Máy đo nồng độ co2

    Máy đô nồng độ co2 trong không khí

    Sản lượng lương thực trên toàn quốc năm nay ra sao, thưa ông?

    Thống kê đến cuối tháng 10 cho thấy, lương thực năm nay ước giảm 151.000 tấn. Trong đó, miền Bắc giảm chừng 266.000 tấn (đợt lũ lịch sử vừa qua giảm 133.000 tấn); miền Trung có tăng, bù vào thiếu hụt miền Bắc; ĐBSCL ổn định. Do đó, nếu sản lượng năm trước đạt 43.6 triệu tấn thì năm nay đạt 43.45 triệu tấn.

    Năng suất bình quân trên toàn quốc hầu như không giảm, vẫn tăng 0.2 tạ/ha.

    Vừa qua xảy ra hiện tượng lúa tăng giá mạnh, thương lái không thể mua để xuất khẩu, ông lý giải điều đó như thế nào?

    Tháng 10, lúa ở ĐBSCL tăng khoảng 200đ/kg bởi nhu cầu thị trường quốc tế. Năm nay, chúng ta dự kiến lượng gạo xuất khẩu cán đích 6 triệu tấn, tăng cao hơn năm trước nhưng sản lượng lúa không tăng, các đơn vị xuất khẩu sẽ tích trữ nên gây biến động.

    Một số khu vực phía Bắc lúa tăng cục bộ do mất mùa nhưng điều tiết cả nước thì không ảnh hưởng. Hiện dư chừng 700 tấn cho xuất khẩu đến cuối năm.

    Trước những thiên tai thất thường như vừa qua thì sản lượng thu được là thắng chứ không thất bại. Miền Bắc mất mùa cục bộ do mưa lũ.

    Dùng từ “mất mùa” có đúng với thực tế miền Bắc không và ông có lời khuyên nào với doanh nghiệp xuất khẩu gạo.

    Miền Bắc xảy ra tình trạng mất mùa bởi mưa lũ và dịch bệnh. Một số khu vực Thái Bình, Nam Định… lúa mắc bệnh lùn sọc đen, gây giảm năng suất. Số diện tích này không cao, không có diện tích nào mất trắng.

    Với bệnh dịch đã có tính toán nên kịp thời ứng phó, không gây diện rộng, chỉ xảy ra cục bộ ở địa phương.

    Dịch bệnh với vụ mùa vừa rồi xảy ra khá phức tạp. Vậy theo ông các địa phương đã vào cuộc kịp thời?

    Hầu hết chính quyền địa phương đều tích cực vào cuộc, đặc biệt sau sự cố Thiên Ưu 8 – Hà Tĩnh. Bệnh lùn sọc đen xuất phát từ Thái Bình và lập tức có thông báo lên Cục và Cục chỉ đạo  đi các địa phương từ Nghệ An trở ra ứng phó kịp thời.

    Chỉ một số khu vực dịch bệnh xảy đến nhanh quá nên không kịp ứng phó, một số khu vực thì địa phương còn lơ là chưa ý thức được mức độ nguy hiểm của bệnh dịch.

    Không ít địa phương còn có vấn đề ngay từ khâu thống kê bởi họ tự ý giấu đi một số diện tích mất mùa. Khi thống kê năng suất phải dựa trên tổng diện tích từ khi gieo cấy đến khi thu hoạch nhưng nhiều địa phương bỏ qua những diện tích mất trắng, không đưa vào thống kê nên sản lượng thống kê trên giấy rất cao nhưng thực tế lại hoàn toàn ngược lại, thấp hơn rất nhiều. Việc này do “đảm bảo yếu tố chính trị”, quan điểm của ông về vấn đề này thế nào?

    Tôi chưa chắn chắn về vấn đề này bởi trong ngành nông nghiệp có ước tính năng suất, sản lượng và theo số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp cũng như của Tổng cục Thống kê thì năng suất lúa 2017 các tỉnh cơ bản chính xác. Hiện chỉ còn đợi năng suất lúa vụ thu đông từ ĐBSCL để cs con số thống kê cuối.

  • Bất chấp phải “giải cứu”, Đồng Nai vẫn tăng mạnh diện tích trồng chuối!

    Bất chấp phải “giải cứu”, Đồng Nai vẫn tăng mạnh diện tích trồng chuối!

    Đầu năm đã diễn ra tình trạng giá chuối giảm mạnh do diện tích tăng vượt quy hoạch và phải “giải cứu”. Những tưởng người dân sẽ thận trọng hơn nhưng không thể ngờ, diện tích trồng chuối chẳng bớt đi mà đột ngột tăng cao theo sự mô hồ, ảo vọng của người dân.

    Máy đo nồng độ oxy hòa tan

    Máy đo oxy hòa tan

    Máy đo nồng độ oxy hòa tan trong nước

    Phá tiêu, thay chuối

    Khu vực Cây Gáo, Thanh Bình, nơi chuyên canh chuối lớn nhất huyện Trảng Bom (Đồng Nai), đầu năm vừa qua người trồng chuối đã “khóc ròng” khi chuối chín chẳng có ai mua, đổ cho dê, bò ăn.

    Sau lần “bết bát” ấy, chẳng phải là cây gì khác thay thế, vẫn bạt ngàn những rẫy chuối, đa phần chuối già cấy mô cho xuất khẩu. Vùng này có hai cây trồng chủ lực là hồ tiêu và chuối.

    Ông Chi (Cây Gáo) vừa phá đi 2 mẫu tiêu già và liền thay mới là toàn bộ chuối.

    Ông cho rằng cây này chi phí đầu tư thấp, thời gian ngắn, ít sâu bệnh và ít công chăm sóc.

    Nên may mắn thì chuối được giá nên ông làm chuối dù không biết tương lai thế nào.

    Nhiều hộ gia đình cũng chọn cách làm như ông Chi nên diện tích cây trồng này chẳng ngừng tăng lên. Riêng Cây Gáo diện tích tăng 10ha và Thanh Bình con số lên tới 40ha. Cả huyện Trảng Bom có tổng 414ha, tăng 132ha so cùng kỳ năm trước.

    Huyện đã tuyên truyền nhấn mạnh người dân cần cẩn trọng không tăng diện tích chuối tránh tình trạng dư thừa nhưng cũng không hiệu quả.

    Trồng theo tự phát

    Với loại chuối già cấy mô này rộ chín dịp sau Tết và dải rác từ 2-3 tháng. Thị trường tiêu thụ mạnh loại chuối này là thương lái mua bán sang Trung Quốc.

    Vụ chuối đầu năm nay người dân cần “giải cứu” bởi chẳng có người mua, phía Trung Quốc ngưng hoặc mua nhỏ giọt nên chuối chín đầy vườn chỉ cho bò, dê ăn. Thị trường trong nước thì chẳng ai dùng chuối này.

    Bài học xương máu chẳng phải với chuối mà với hàng loạt loại cây, con khác với Trung Quốc, với thương lái vẫn còn nguyên nhưng thay vì cảnh giác thì người dân vẫn tiếp tục mạo hiểm,gia tăng diện tích chuối dù chưa biết cuối năm thị trường sẽ ra sao.

    Chủ tịch Hội nông dân xã Cây Gáo vô cùng lo lắng bởi năm ngoái phải huy động toàn lực, phía doanh nghiệp “giải cứu” nhưng năm nay diện tích chẳng giảm mà còn tăng mạnh trong khi chưa biết tương lai ra sao.

    Được coi là vùng chuyên canh chuối lớn nhất tỉnh nhưng phương thức canh tác chuối tại Trảng Bom vẫn theo cách tự phát, không tuân thủ quy tắc, chuẩn mực nào.

    Ông Quang, Phó chủ nhiệm Tổ hợp tác trồng Chuối Thanh Bình cho rằng, chuối Đồng Nai khá nhiều lợi thế, tuy nhiên việc làm tự phát đã khiến cây trồng này không phát huy hết lợi thế, tiềm năng của mình.

    Để chuối có tương lai, có thị trường xuất khẩu thì phải tìm ra tiếng nói chung của các hộ trồng chuối trong vùng.

    Vừa qua, nhiều doanh nghiệp đã đặt vấn đề hợp tác thu mua nhưng người dân chẳng mặn mà, họ ảo vọng vào thị trường Trung Quốc được giá cao lại không khắt khe trong tiêu chuẩn.Còn thị trường khác cần tiêu chuẩn này, nọ nên họ “ngại” không muốn tuân thủ.

    Nhìn ra tỉnh bạn, Long An đã thành công khi xuất khẩu chuối công nghệ cao sang thị trường khó tính để thấy người trồng chuối Đồng Nai sẽ tiếp tục gặp khó nếu làm kiểu tự phát này.

  • Nhận bò lở mồm long móng: Đã nghèo lại gặp cái… eo!

    Nhận bò lở mồm long móng: Đã nghèo lại gặp cái… eo!

    Câu chuyện xảy ra trên địa bàn huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) khi các hộ nghèo nơi đây được nhận bò theo dự án 30A nhưng lại là bò bệnh. Người dân thì vô cùng hoag mang còn đơn vị chịu trách nhiệm thì vẫn “vòng vo tam quốc”.

    Máy đo nồng độ oxy hòa tan

    Máy đo oxy hòa tan

    Máy đo nồng độ oxy hòa tan trong nước

    Vào thời điểm này, địa bàn huyện đã xác định được có 48 con cả trâu lẫn bò mắc bệnh dịch lở mồm long móng. Đnags chú ý là trong tổng số đó có tới 30 con bò bị bệnh là bò của dự án cấp cho người dân, còn lại 18 con trâu bò tại địa phương mắc bệnh và số lợn là 5 con (đã đem đi tiêu hủy). Chiều hướng dịch bệnh lây lan còn đang tiếp diễn khiến chính quyền lẫn người dân vô cùng hoang mang.

    Anh Thiết (ngụ tại xã Gia Phố) bồn chồn chia sẻ: “Vừa qua, gia đình tôi nhận 1 con bò từ dự án hỗ trợ. Nhưng khi dắt con bò nhận về toàn bộ chân nó đã sưng tấy, khó đi lại. Hiện tại tất cả chân nó sưng, đi lại khó khăn, ăn uống cũng chỉ được ít. Cả anh và người dân xung quanh tỏ ra quan ngại vì bò anh nhận chẳng thể nhốt riêng ở đâu được, phải thả cùng đàn hàng xóm và nhốt cùng khu vực chăn nuôi của gia đình. Chỉ sợ nó lây lan sang xung quanh và lây cho đàn nhà. Nhiều người đã khuyên tôi mang đi trả lại bò”.

    Bà Tứ (ngụ xã Phong Phú) thì bồn chồn chia sẻ, phát hiện bò có mầm bệnh, gia đình bà mất ăn mất ngủ. Mỗi còn bò có giả hàng chục triệu, bà lo nhất là nó lây cho hàng xóm, thiệt hại rồi cuối cùng lại mất tình đoàn kết.

    Nhiều người dân bức xúc lên tiếng: “Đây chẳng phải là hỗ trợ dân mà là đưa bò về lây lan dịch bệnh cho địa phương. Đề nghị các cấp thẩm quyền phải xem xét lại trách nhiệm của người gây ra sự việc”.

    Lãnh đạo xã Hương Xuân cho hay, Khi nhận quyết định của huyện về hỗ trợ bò cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, địa phương đã bình xét khách quan và trình kế hoạch lên Phòng nông nghiệp của huyện. Ngày 24.10, đoàn cán bộ của 3 xã đã được đưa ra trại giống để xem bò giống. Thười điểm đó bò rất đẹp. Hôm sau thì trại chở giống bò về cho dân. Không hiểu nguyên nhân nào khiến bò phát bệnh sau khi người dân nhận về. Hy vọng dịch bệnh nhanh chóng được khống chế để không lây lan cho đàn bò tại địa phương.

    Quanh co trách nhiệm

    Trao đổi với Trung tâm giống bò, nơi cấp giống cho người dân thì lòng vòng trách nhiệm. Lãnh đạo thì nhận trách nhiệm thuộc về Trung tâm và đang phối hợp vùng phân giống bò dập dịch, nhưng trách nhiệm thuộc cá nhân nào thì đang làm rõ.

    Phó giám đóc Trung tâm thì nói rằng không báo cáo lên giám đốc, chỉ làm việc với kế toán về số bò giao cho dân (?). Và có đầy đủ phiếu kiểm dịch khi nhận bò, tiến hành tiêm vacxin, bấm thẻ tai khi có cán bộ xã ra và thống nhất ngày bàn giao bò cho người dân.

    Chi cục trưởng Chi cục thú y tỉnh Hà Tĩnh chi hay qua khám các triệu chứng lâm sàng thì xác định chắc chắn 30/30 con bò mà người dân nhận từ dự án 30A tại Hương Khê đều mắc bệnh lở mồm long móng.

  • Thời tiết khắc nghiệt, hành thối rữa, nông dân Lý Sơn thiệt hài hàng chục tỷ!

    Thời tiết khắc nghiệt, hành thối rữa, nông dân Lý Sơn thiệt hài hàng chục tỷ!

    Hiện đang là thời điểm thu hoạch hành của người dân trên huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi nhưng thời tiết bất thường, mưa triền miên kéo dài khiến hành tím bị thối rữa lên đến 300ha diện tích, thiệt hại của bà con nông dân bước đầu ước tính lên tới hơn 50 tỷ đồng – Lãnh đạo huyện ủy Lý Sơn chia sẻ.

    Máy đo độ mặn

    Máy đo độ mặn giá rẻ

    Bút đo độ mặn

    Tại khu vực cánh đồng khu Sân Bay, thuộc thôn Đông của xã An Hải, diện tích hành tím vụ Thu đông đang tới mùa thu hoạch với tổng diện tích gần 40ha. Dự kiến sẽ cho thu hoạch vụ mùa bội thu thế nhưng ảnh hưởng của thời tiết, từ đợt mưa triền miên kéo dài vừa qua khiến người dân trồng hành đứng trước thảm cảnh trắng tay. Mưa nhiều khiến lá hành dập nát, củ hành thối rữa, toàn bộ diện tích trồng hành bị hư hại nặng nề.

    Đi trên cánh đồng thôn Đông, gặp những người nông dân vẻ mặt buồn bã, dừng lại trước mảnh ruộng với những bụi hành trơ trụi bởi lá đã ủng nát, bà Hoa cố gắng thu hoạch chút hành còn sót lại buồn bã chia sẻ, vụ trước nhà bà có 3 sào trồng hành mà thu hoạch được xấp xỉ 2 tấn củ. Giá bán thời điểm thu hoạch trung bình là 52.000đ/kg nên trừ tất cả mọi loại chi phí, gia đình bà vẫn còn thu lãi được tới 60 triệu đồng.

    Vậy mà năm nay, chẳng còn mấy ngày nữa thu hoạch nhưng trời lại không cho, đổ mưa triền miên khiến hành thối rữa cả nên nông dân trắng tay. Bà rầu rĩ nói, vụ này may ra thu được 80-100kg mỗi sào mà giá bán rớt xuống chỉ có 7.000đ/kg, người nông dân thua lỗ nặng nề.

    Trải dài khắp những khu đồng Rừng tại thôn, diện tích 50ha hành đang vào giai đoạn hình thành củ cũng hỏng hết. Mưa to nên nhiều ruộng hành tụt hết lá nên người dân trắng tay hoàn toàn.

    Ông Khanh (thôn Đông) chia sẻ, vụ mùa này ông đầu tư hơn 120 triệu cho 2ha hành. Nếu thời tiết thuận lợi thì vài ngày nữa thôi là gia đình ông đã thu chừng 14 tấn củ, tính giá chỉ 5.000đ/kg là ông cũng đã có 700 triệu đồng. Nhưng giờ tất cả tay trắng.

    Ông buồn bã nói, chẳng nhổ về thì tiếc của, nhổ về thì hôm trước hôm sau là thối rữa hết do đã dính nước mưa. Chẳng ai mua, cho cũng chẳng ai lấy nên mang ra biển đổ.

    Ngoài ra, khắp nơi nơi trong vùng, hàng ngàn hộ dân trồng hành trên khu vực huyện đảo Lý Sơn vụ vừa qua đều rơi vào cảnh khốn cùng, tay trắng; vụ tỏi Đông Xuân cũng đang kế cận.

    Lãnh đạo huyện đảo cho hay, toàn bọ vụ vừa qua, người dân trên huyện đã trồng được 300ha trong đó chủ yếu là hành cao sản. Thế nhưng chỉ còn vài ngày nữa thu hoạch thì mưa triền miên, mưa lớn dẫn đến hành sắp thu hoạch thối rữa, hỏng nặng, thiệt hại ước tính trên 50 tỷ đồng. Số diện tích còn lại cho thu hoạch với sản lượng rất thấp. Mùa hành bị thất bại khiến người dân cũng khó khăn trong chuẩn bị sản xuất cho vụ tỏi Đông Xuân tới.

    Hành Lý Sơn là loại đặc sản có tiếng và có giá cao trên thị trường. Nhiều thời điểm tại vùng người nông dân cũng bán được giá 55.000đ/kg. Nhờ được giá mà sau mỗi vụ trồng hành, trừ chi phí, người nông dân đã thu lợi nhuận lãi từ 15-20 triệu đồng/sào. Trong năm, vụ hành Thu Đông lại là vụ chính.

    Với những người dân nơi đây, đàn ông đa phần đi đánh cá ngoài đảo còn phụ nữ ở nhà với nghề trồng hành, tỏi.

  • Theo đúng quy hoạch vẫn phải “giải cứu”, ai bù thiệt hại cho người dân?

    Theo đúng quy hoạch vẫn phải “giải cứu”, ai bù thiệt hại cho người dân?

    Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đã đưa ra quan điểm: Dù quy hoạch ngành nghề nhưng người nông dân vẫn chặt điều, chặt tiêu và “giải cứu” đàn lợn.

    Máy đo độ ẩm

    Máy đo độ ẩm không khí

    Quy hoạch liệu có chính xác?

    Thảo luận xung quanh dự án Luật Quy hoạch, ĐBQH đoàn Bạc Liêu – Tạ Văn Hạ đặt ra câu hỏi về lợi ích mà người dân sẽ nhận trước Luật mà Nhà nước ban hành. Ông Hạ cho rằng, người dân đã làm đúng quy hoạch trồng trọt và chăn nuôi theo Nhà nước nhưng khi xảy ra thiệt hại, ai sẽ là người gánh chịu cùng họ?

    Đại biểu này cũng cho rằng, Nhà nước không nên tham gia vào quy hoạch nông nghiệp. Bởi dù có quy hoạch rồi vẫn xảy ra thực trạng “giải cứu” và người dân vẫn chặt bỏ cây trồng do thừa, ế… Thiệt hại đó của nông dân có ai đền bù cho họ không vì đã làm đúng quy hoạch?

    Chung quan điểm ĐBQH Bình Dương – Nguyễn Thanh Hồng cũng cho rằng bài học về quy hoạch đã ther hiện rõ trong việc “giải cứu” lợn. Và ông cho hay, hiện Đồng Nai thì đang giải cứu chuối, trong khi Bình Dương lại nhiều nhà đầu tư muốn tập trung vào sản phẩm này. “Vậy quy hoạch có hợp lý?”, ông Hồng nêu băn khoăn.

    E ngại về “siêu hội đồng”

    Đại biểu Nguyễn Thanh Hồng cũng lo về vai trò của “siêu hội đồng” thẩm định trong quy hoạch. Bởi luật mang tính kế hoạch và đều từ Bộ KH&Đt là chủ quản.

    ĐBQH đoàn Hòa Bình – Nguyễn Tiến Sinh thì nêu quan điểm với “siêu hội đồng”, ông cho rằng chỉ giao cho một đơn vị và phân quyền về địa phương. Ông cũng tỏ ra hoài nghi với năng lực, pháp lý của “siêu hội đồng” và đề nghị phải thiết kế lại quy định.

    Giải trình trước những ý kiến của ĐBQH, Bộ trưởng KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng cho hay, dự luật chỉnh lý đã bỏ quy hoạch một số như nuôi lợn, gà, cá tra… để thị trường quyết định. Nhà nước có dự báo, định hướng chứ không quy hoạch.

    Luật sẽ giữ quy hoạch với các sản phẩm liên quan hạ tầng để đảm bảo “đi trước một bước”, tận dụng tài nguyên, tránh lãng phí, ông Dũng chia sẻ.

    Giải đáp những lo ngại của ĐBQH về Bộ KH&ĐT được trao nhiều quyền khi vừa “quản”, vừa lập và thẩm định, BT Dũng lý giải: Đề xuất lập ra từ Chính phủ và nếu quy hoạch nào cũng đưa về Chính phủ thì quá nhiều nên ủy quyền cho Bộ thẩm định.

    Dự thảo của Luật quy hoạch gồm 6 chương với 72 điều và 2 phụ lục đi kèm, Luật dự kiến được thông qua vào Kỳ họp thứ 4 của Quốc Hội khóa XIV trong thời gian diễn ra từ 23.10-25.11 tại Hà Nội. Được thông qua thì Luật sẽ áp dụng từ 1.1.2019. Để đồng bộ hóa, phù hợp Luật mới này, dự kiến sẽ có khoảng 30 luật khác sẽ phải sửa đổi, bổ sung vào thành luật mới.

    Với Nhà nước, việc đưa ra bất kỳ chính sách, luật sửa đổi nào cần có khảo sát và dựa vào thực tế nhằm hạn chế tối đa việc xảy ra tình trạng “nông sản nghĩa tình” như thời gian vừa qua. Cuối cùng người dân vẫn phải là người gánh chịu và là người bị thiệt hại nặng nề đầu tiên.

  • Chưa khuyến khích sử dụng thuốc trừ sâu thảo dược đại trà

    Chưa khuyến khích sử dụng thuốc trừ sâu thảo dược đại trà

    Với ưu điểm về một sản phẩm không gây độc hại, thân thiện với môi trường, giá thành thấp, nhiều hộ gia đình tại Lục Ngạn (Bắc Giang) đã tự chế thuốc trừ sâu thảo dược sử dụng phun cho những loại cây có múi.

    Bán Kit thử nhanh

    Kit thử nhanh

    Kit thử nhanh an toàn thực phẩm

    Nhưng hiệu quả của việc sử dụng loại thuốc tự chế này ở mức độ nào thì cần phải có sự kiểm định, đánh giá của các đơn vị chuyên môn.

    Chị Thơi ở thôn Chể (xã Phương Sơn) là một trong những hộ đi đầu trong ứng dụng thuốc trừ sau thảo dược tự chế để chăm sóc cho vườn cam, bưởi với diện tích 1ha.

    Chị cho biết cách thức này được áp dụng 2 năm qua do một giáo sư nông nghiệp phía Nam ra hướng dẫn cách làm. Sau khi thử áp dụng thấy hiệu quả nên gia đình chị đã chọn áp dụng. Với những nguyên liệu ngâm, ủ đã tạo ra loại thuốc sâu phun vào cam, bưởi và đánh bay những loại sâu đặc trưng như sâu ăn lá, sâu vẽ bùa, nhện đỏ, rầy…

    Từ đó, gia đình chị chỉ sử dụng loại thuốc thảo dược này thay thế cho thuốc trừ sâu hóa học. Chị không ngần ngại chia sẻ các nguyên liệu dễ mua như ớt, tỏi, gừng, riềng, mật nhân, quế, mù tạp, rượu, thuốc lào. Giã nhuyễn các nguyên liệu, trộn chung và ngâm 1 tháng rồi mang ra sử dụng.

    Loại thuốc sâu thảo dược này có ưu điểm lớn là không gây độc cho người dùng, đảm bảo cây ăn quả tránh sâu bệnh, chi phí sản xuất cũng thấp. Chúng còn có thể sử dụng hữu hiệu cho rau. Không cần phải có thời gian cách ly lâu dài như thuốc hóa học; không gây mùi nồng nặc ô nhiễm, độc hại cho môi trường và cũng không phải lo ứng phó với lượng lớn các loại vỏ chai thuốc bảo vệ thực vật gây hại vào môi trường.

    Tại Lục Ngạn, Bắc Giang hiện có hơn 22 nghìn cây ăn trái với chừng 16 nghìn ha vải thiệu, hơn 5 nghìn ha cam và bưởi, hơn 800ha nhãn, hơn 300ha táo cùng những loại khác. Do vật, lượng thuốc trừ sâu sử dụng hàng năm rất lớn. Nếu việc áp dụng thuốc thảo dược được đánh giá tốt thì góp phần lớn vào việc cải thiện môi trường, tránh ô nhiễm và bảo vệ sức khỏe của người dân vùng sản xuất cũng như người tiêu dùng.

    Đi quanh vùng chúng tôi gặp anh Thủy đang phun thuốc sâu cho vườn cam. Anh Thủy cho hay anh đã dùng thuốc này 2 năm qua và vừa cầm vòi phun, vừa xởi lởi chia sẻ: “Đấy, các anh không thấy mùi gì đíng không? Phun thuốc sâu giờ đã khác xưa rồi”.

    Anh cho hay, trước kia khi phun vườn cam này thì mùi thuốc nồng nặc khiến anh Thủy phải đau nhức mình mẩy mấy ngày. Còn từ khi anh dùng thuốc trừ sâu thảo dược thì không có vấn đề gì xảy ra.

    Anh Thủy cũng chia sẻ về nguyên liệu để anh chế thuốc sâu thảo dược là: 3kg ớt; 3 lạng thuốc lào; 5 lạng quế; 2kg tỏi; 10l rượu; 1kg mật nhân. Ngâm nguyên liệu trong 1 tháng và khi dùng thì pha theo tỷ lệ 300ml nước thuốc với 200l nước.

    Anh cho hay, dù là thuốc thảo dược nhưng cũng không được lạm dụng phun nhiều bởi các nguyên liệu đều có tính nóng sẽ ảnh hưởng đến cây trồng.

    Giờ đây, hầu như anh không sử dụng thuốc sâu hóa học, chỉ trường hợp dịch bệnh bùng phát quá mạnh, thời tiết khắc nghiệt thì anh mới dùng thuốc hóa học.

    Ngoài ra, anh Thủy còn sử dụng đậu tương nghiền, ngâm và ủ thành phân bón cho cây, không sử dụng phân hóa học, cho cây trái ngọt nước. Và nhờ đó mà vườn cam nhà anh không có sâu bệnh, phát triển tốt và trừ được loại nhện đỏ, xuất hiện phổ biến ở cam.

    Ông Thắng, Phó trưởng thôn Chể cho hay, toàn thôn đa phần các hộ trồng cây có múi, đưa lại thu nhập cao. Từ khi các hộ áp dụng thuốc sâu tự chế thảo dược thì chi phí giảm 30%, lại không gây độc hại và ảnh hưởng môi trường nên đã phổ rộng đến 1/3 hộ áp dụng phương thức này.

    Theo bà Hà, Phó trạm trưởng trạm Khuyến nông Lục Ngạn cho hay, dù đã nhận được báo cáo từ địa phương về thuốc trừ sâu thảo dược có nhiều ưu điểm. Tuy nhiên, bà cũng cho biết cơ quan chức năng trước khi tuyên truyền cũng cần có nghiên cứu, đánh giá thuốc thảo dược với mỗi loại cây để đảm bảo sự phát triển an toàn.

    Do vậy, Trạm khuyến nông chưa có nghiên cứu thực tế để đánh giá nên chưa khuyến khích bà con nông dân đưa vào sản xuất đại trà.