Author: Nguyên Phạm Hạnh

  • Tiền gửi trong dân giảm, trái phiếu thấp, vốn đang dồn vào kênh nào?

    Tiền gửi trong dân giảm, trái phiếu thấp, vốn đang dồn vào kênh nào?

    Ghi nhận cho thấy lượng tiền gửi trong dân hiện thấp 1/3 so với trước đây khi chưa xảy ra dịch Covid-19. Cùng với đó trái phiếu Chính phủ cũng trúng thầu với tỷ lệ thấp, chỉ 11.7%. Vậy nguồn vốn đang dồn vào kênh nào?

    Công bố của ngân hàng Nhà nước về tín dụng, huy động vốn thời điểm 2021 đã có tín hiệu khả quan hơn so với năm trước.

    Tiền gửi từ phía các tổ chức ghi nhận mức tăng trưởng cao tới 15.7% so với cùng kỳ năm trước. Nhưng tiền gửi trong dân ghi nhận giảm mạnh chỉ còn 3.1% so với cùng kỳ (con số này trước khi dịch đạt 10.8%). Một tong những nguyên nhân khiến huy động tiền gửi từ dân thấp có thể do lãi suất suốt 2 năm qua ở mức thấp.

    Một số nhận định cho rằng năm 2022 tình trạng này sẽ cải thiện hiệu quả khi hiện lãi suất huy động đã ở ngưỡng có thể chạm đáy và có xu hướng nhích lên trong thời điểm cuối năm.

    Ở nhóm Ngân hàng nhà nước với biểu lãi suất ít thay đổi cũng ghi nhận nhích lên 0.2-025%.

    Khi tiền gửi từ dân huy động giảm thấp sẽ khiến thanh khoản trong ngân hàng không mấy êm ả buộc nhà điều hành thực hiện bơm ròng sau nghỉ Tết, điều hiếm gặp suốt những năm qua.

    Lãi suất liên ngân hàng ghi nhận ở mức cao hơn so với thời điểm trước. Cuối tháng 2 kết phiên giao dịch ghi nhận 2.5% qua đêm, 2.59% 1 tuần, 2.57% 2 tuần và 2.46% 1 tháng.

    Trái phiếu Chính phủ ghi nhận phân khúc thứ cấp có chiều hướng tăng mạnh hơn với kỳ ngắn hạn. Trong đó kỳ hạn 5 năm trở xuống ghi nhận lợi suất trái phiếu tăng mạnh. Điều này gây ra mối lo ngại với vấn đề lạm phát cũng như rủi ro địa chính trị. Cụ thể: 1 năm ở mức 1.08%, tăng cao 0.21 điểm; 3 năm ở mức 1.23 %, tăng cao hơn 0.18 điểm; 5 năm ở mức 1.23%, tăng cao 0.12 điểm; 10 năm ở mức 2.21%, chỉ tăng 0.01 điểm; 15 năm ở mức 2.54%, không tăng và 20 năm ở mức 2.85%, tăng 0.02 điểm.

    Vừa qua, Kho bạc Nhà nước thực hiện gọi tổng thầu sơ cấp 6.5 nghìn tỷ đồng trái phiếu. Kết quả huy động chỉ đạt 761 tỷ đồng với tỷ lệ trúng thầu đạt ở mức khiêm tốn 11.7%.

    Ở kỳ hạn ngắn 10 năm, 30 năm đã thực hiện huy động thành công. Tuy nhiên các kỳ hạn dài như 7, 15 hay 20 năm thất bại.

    Do vậy hiện Quý I kế hoạch phát hành chỉ đạt khoảng 31% và năm 2022 chỉ đạt kế hoạch phát hành 8%.

    Các chuyên gia dự đoán Kho bạc Nhà nước sẽ tăng nhu cầu phát hành trái phiếu thời gian tới. Đồng thời nguồn cung trái phiếu năm 2022 theo đó sẽ cao hơn bởi lợi suất trái phiếu cũng tăng nhẹ.

    Những dấu hiệu về tiền gửi trong dân giảm, mức lãi suất liên ngân hàng neo cao, trái phiếu Chính phủ huy động tỷ lệ thấp ở ngưỡng sơ cấp. Ngược lại tín dụng lại tăng mạnh. Điều này đã phản ánh thị trường vốn đang chuyển động với áp lực đè lên hệ thống tín dụng.

    Như vậy có thể thấy sau quý 2.2022, lãi suất có thể sẽ thay đổi tăng cao và lạm phát có thể sẽ gõ cửa.

    Nguồn: Tổng hợp

    Xem thêm

    + Xử lý doanh nghiệp “ôm” đất rồi “lặn tăm”

    + Những mặt hàng “sốt” giá trước chiến sự Nga – Ukraine

    + Máy đo độ mặn giá rẻ

    + Kit thử nhanh

  • Xử lý doanh nghiệp “ôm” đất rồi “lặn tăm”

    Xử lý doanh nghiệp “ôm” đất rồi “lặn tăm”

    Không ít doanh nghiệp cố tình vi phạm “ôm” hàng ngàn, hàng triệu m2 đất nhưng chậm đưa vào sử dụng hoặc bỏ hoang khiến cơ quan quản lý không thể liên hệ làm việc.

    Cơ quan chức năng quản lý công bố tình trạng vi phạm của 14 doanh nghiệp trên địa bàn Quảng Nam và Hải Dương. Cùng với đó là không ít doanh nghiệp trên địa bàn các tỉnh Hà Giang, Đồng Nai…

    Sai phạm chậm tiến độ hàng triệu m2 đất tại Quảng Nam

    Cơ quan chức năng thanh tra có đến 62 đơn vị vi phạm luật đất đai (thống kê chưa đầy đủ), thu hồi hơn 13 nghìn m2 đất vi phạm.

    Cùng với đó là các đơn vị vi phạm sử dụng đất cho thuê sai đối tượng, không đúng mục đích, chuyển đổi mục đích sử dụng khi chưa được cơ quan chức năng có thẩm quyền chấp thuận.

    Đến hết năm 2021 đã có 18 đơn vị đã khẩn trương khắc phục những sai phạm vi phạm liên quan. 11 đơn vị còn vi phạm như chậm tiến độ, sử dụng đất sai mục đích…

    Ảnh minh họa

    Trong số đó dự án Khu du lịch sinh thái Cù Lao Chàm vi phạm nhiều nhất với diện tích còn 2.6 triệu m2. Những dự án vi phạm khác diện tích lên tới vài nghìn và vài chục nghìn m2. Như công ty Toàn Thiện và Hùng Cường địa bàn Điện Bàn diện tích đất vi phạm lần lượt là 13.440m2 và 20.882m2; công ty Nam Cổ Cò diện tích đất vi phạm tới 93.539m2.

    Ngoài ra trên địa bàn TP. Hội An, một số doanh nghiệp vi phạm như công ty Vườn Phố Hội với diện tích hơn 37 nghìn m2; công ty Ngọc Hội An diện tích hơn 5 nghìn m2.

    Ngoài ra doanh nghiệp không sử dụng đất như công ty Thịnh Thuận, xí nghiệp Phước Nhật (Thăng Bình) diện tích lần lượt là hơn 3 nghìn m2 và hơn 6 nghìn m2; công ty Thủy Long diện tích hơn 12 nghìn m2.

    Đơn vị chậm tiến độ là công ty Nguyệt Dũ (TP. Hội An) diện tích 4.196m2 và công ty Hùng Hậu diện tích 21.890m2.

    Vi phạm đất đai trên địa bàn Hải Dương

    Không ít doanh nghiệp trên địa bàn đã “ôm” đất rồi “lặn tăm”. Thống kê qua rà soát cho thấy có 3 đơn vị công khai vi phạm là công ty Tin Tin, Hoàng Long Steel, Vinamit để hoang hàng ngàn m2 đất suốt nhiều năm qua.

    Vinamit có diện tích đất vi phạm hoang hóa lớn nhất là 349.616m2 trên địa bàn Phú Lương, Nam Đồng, Hải Dương. Phía cơ quan chức năng cho biết đơn vị này đã không triển khai dự án đã phê duyệt trên đất này nhiều năm qua. Dù phía cơ quan đã gia hạn nhưng vẫn tiếp tục chậm trễ, vi phạm.

    Về công ty Tin Tin cũng để hoang hóa diện tích 15.000m2 đất trên địa bàn xã Hoàng Diệu, Gia Lộc. Đơn vị này cũng không thực hiện dự án đã được phê duyệt trên đất mà để hoang hóa nhiều năm qua. Đặc biệt phía cơ quan chức năng xã cũng như huyện hay tỉnh liên lạc làm việc với chủ đầu tư nhưng hoàn toàn không thể.

    Còn với đơn vị Hoàng Long Steel vi phạm do cũng để hoang hóa đến 18.200m2 đất trên địa bàn xã Vĩnh Hưng, Bình Giang.

    Trên toàn quốc hiện còn không ít tình trạng đất hoang hóa do doanh nghiệp được giao dự án nhưng không thực hiện hoặc thực hiện sai mục đích… Cơ quan chức năng cần triệt để xử lý để đảm bảo quỹ đất được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả hơn.

    Nguồn: Tổng hợp

    Xem thêm

    + Những mặt hàng “sốt” giá trước chiến sự Nga – Ukraine

    + Ngành gỗ đối mặt với “nút thắt” nguyên liệu

    + Báo giá máy đo độ mặn

    + Kit kiểm tra nhanh

  • Những mặt hàng “sốt” giá trước chiến sự Nga – Ukraine

    Những mặt hàng “sốt” giá trước chiến sự Nga – Ukraine

    Tình hình căng thẳng giữa Nga và Ukraine lên mức căng thẳng đã khiến không ít mặt hàng tăng giá. Trong đó tiêu biểu là các mặt hàng nhiên liệu, vật liệu xây dựng như xăng dầu, gas, sắt thép, nhôm… Những mặt hàng trong cơn “lên đồng” đẩy giá cao lập kỷ lục mới.

    Vật liệu xây dựng tăng giá mạnh

    Giá mặt hàng quặng sắt, thép ghi nhận tăng cao. Tại sàn Thượng Hải sáng 2.3 lên 4.881 Nhân dân tệ/tấn, cao hơn trước đó 105 nhân dân tệ. Trước đó 28.2 cũng ghi nhận thép cuộn tăng giá lên 4.958 nhân dân tệ/tấn.

    Từ đầu năm đến nay giá thép ghi nhận tăng 5.4%. Sản lượng thép không gỉ tăng 2 con số so với cùng thời điểm năm ngoái. Dù vậy trước nhu cầu sử dụng của thế giới tăng cao nên nguồn cung vẫn thiếu hụt so với cầu.

    Với quặng sắt trên sàn của Trung Quốc cũng lên ngưỡng 737.5 nhân dân tệ/tấn. Trước đó đã chạm ngưỡng 741 nhân dân tệ. Dù những nhà máy quặng sắt của Trung Quốc có nguồn cung cải thiện nhưng lo ngại trong gián đoạn nguồn cung từ Nga và Ukraine cũng đẩy giá quặng sắt tăng.

    Nhôm thiết lập kỷ lục giá mới

    Trên thế giới ghi nhận nhôm tăng giá mạnh với kỷ lục lên 3.525 USD/tấn tại sàn London Anh ngày 28.2.

    Nguyên nhân của giá nhôm tăng chính bởi lệnh trừng phạt tài chính với Nga đã gây ra lo lắng cho các nhà sản xuất. Rusal một trong những nhà sản xuất lớn đã dừng nhà máy ở Ukraine.

    Trong khi đó Nga là một trong những nhà sản xuất nhôm lớn của thế giới, chiếm tới 6% sản lượng nhôm toàn cầu. Chiến sự với Ukraine đã gây ảnh hưởng cho hoạt động xuất khẩu nhôm của Nga. Từ đó gây thiếu hụt nguồn cung cho thế giới, dẫn đến giá tăng.

    Giá dầu cũng nhảy vọt

    Giá dầu ghi nhận ở mức 111.66USD/thùng dầu thô, tăng hơn trước 6.69USD.

    Thế giới chứng kiến giá dầu leo thang đạt kỷ lục cao nhất trong suốt hơn 7 năm qua. Bởi lo ngại vấn đề nguồn cung bị gián đoạn do xung độg giữa Nga và Ukraine leo thang.

    Gas tăng giá mạnh

    Ghi nhận giá gas tự nhiên tăng lên 4.65USD/mmBTU, giao tháng 4.2022.

    Căng thẳng Nga và Ukraine leo thang chính là nguyên nhân khiến giá gas tự nhiên tăng mạnh. Bởi lo ngại vấn đề gián đoạn nguồn cung.

    Kỷ lục giá than tăng

    Giá than ghi nhận ở Newcastle (Úc) lên ngưỡng 275USD/tấn, cao hơn trước đó 15%, mức giá than cao chưa từng có trong lịch sử.

    Nguyên nhân đẩy giá than lên cao có sự tác động trong chiến sự Nga – Ukraine. Chiến sự khiến nhu cầu than sử dụng cho nguồn điện tại các nước châu Âu tăng cao. Hơn thế Đức ngưng không mua khí đốt của Nga mà thay thế vào đó là than cũng khiến nguồn cung than thêm khan hiếm và giá than đẩy lên cao.

    Hơn thế thời điểm tháng 2, Nga cung ứng cho châu Âu 3.3 triệu tấn than. Do đó cuộc chiến Nga và Ukraine cũng khiến nguồn cung từ Nga bị ảnh hưởng và đẩy giá than lên cao.

    Như vậy có thể thấy tác động của chiến sự Nga – Ukraine ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường trên toàn cầu trong thời gian tới. Những nhà quản lý và doanh nghiệp cần có chiến lược cụ thể để chủ độn trong hoạt động phát triển kinh tế của mình.

    Nguồn: Tổng hợp

    Xem thêm

    + Ngành gỗ đối mặt với “nút thắt” nguyên liệu

    + Ô nhiễm rác thải nhựa nghiêm trọng ở Việt Nam

    + Máy đo độ mặn giá rẻ

    + Kit thử nhanh

  • Ngành gỗ đối mặt với “nút thắt” nguyên liệu

    Ngành gỗ đối mặt với “nút thắt” nguyên liệu

    Nguyên liệu trong nước không đủ, nguyên liệu nhập khẩu phụ thuộc chính là những rào cản không nhỏ khiến ngành gỗ có thể chậm tăng trưởng trong năm 2022.

    Dù thời gian qua ghi nhận ngành gỗ đạt mức tăng trưởng ấn tượng, kim ngạch xuất khẩu với con số hơn 1.5 tỷ USD trong những tháng đầu của năm. Thế nhưng vấn đề “nút thắt” nguyên liệu khiến các chuyên gia e ngại ngành gỗ có thể sẽ tăng trưởng chậm.

    Nguồn nguyên liệu trong nước thiếu hụt khiến doanh nghiệp rơi vào tình trạng bị động. 80% phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. Do đó doanh nghiệp sẽ phải đối diện với rủi ro liên quan đến chứng nhận chất lượng và xuất xứ.

    Thống kê cho thấy hàng năm nước ta nhập lượng gỗ tròn và gỗ xẻ để sản xuất ra các sản phẩm đồ gỗ từ 5-6 triệu m3. Nguồn cung chủ yếu 60-70% là gỗ ôn đới. Trong đó Hoa Kỳ, Úc, Canada, các nước châu Âu là nguồn cung chính. Số gỗ nhiệt đới chiếm 30-40%. Trong đó nguồn cung chính từ Lào, Cam, Châu Phi… Chi phí vận chuyển của gỗ nhập khẩu tăng cao, chưa có tín hiệu giảm đã đẩy giá nguyên liệu gỗ tiếp tục tăng mạnh thời gian tới.

    Gỗ nguyên liệu tại Việt Nam hiện chủ yếu từ rừng trồng là loại gỗ nhỏ. Có tới 60-70% lượng gỗ này sử dụng chế biến gỗ dăm, viên nén. Lượng gỗ đạt chứng chỉ quản lý bền vững còn hạn chế. Do vậy vấn đế thiết yếu là cần tạo nguồn gỗ nguyên liệu chất lượng đáp ứng nhu cầu chế biến của ngành.

    Cùng với đó là cần có chính sách liên kết minh bạch, chặt chẽ giữa doanh nghiệp và người trồng rừng.

    Phía doanh nghiệp cũng mong muốn Nhà nước có những chính sách ưu đãi mở cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn đất trồng rừng để đảm bảo nguồn nguyên liệu nhanh chóng, bền vững.

    Đại diện một doanh nghiệp cho biết trồng rừng lấy gỗ nguyên liệu là một quá trình dài cần có chiến lược kích thích đầu tư. Cần có sự tính toán khoa học để đưa ra dự báo về nguồn gỗ nguyên liệu trong quy hoạch phát triển vùng trồng cho từng loại gỗ khác nhau phục vụ nhu cầu thị trường. Do vậy cần có chính sách chi tiết cụ thể trong trồng rừng và khai thác nhằm giảm thiểu việc xuất khẩu nguồn gỗ thô. Ngoài ra cũng cần chú trọng tới nguồn nguyên liệu gỗ nhập bở nó đóng vai trò quan trọng trong sản xuất các sản phẩm gỗ xuất khẩu của nước ta.

    Phía doanh nghiệp cũng đề xuất Chính phủ cần có những hỗ trợ thuận lợi nhất cho doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu gỗ để đảm bảo số lượng cũng như chất lượng và giá thành ưu việt. Giải pháp đáng chú ý chính là minh bạch với cổng thông tin về nguồn nguyên liệu cho doanh nghiệp chủ động tham khảo, lựa chọn, tránh nhập quá nhiều gây tồn kho.

    Theo nghiên cứu của một đơn vị tại Italia CSIL cho dự doán năm 2022, thị trường nội thất trên toàn cầu tăng trưởng ở mức khoảng 4%. Con số này dựa trên khảo sát tại 100 thị trường tiêu thụ đồ gỗ.

    Thị trường châu Âu, châu Á là một trong những thị trường tiêu thụ nội thất gỗ lớn (dự báo hơn 5 tỷ USD/năm) cũng được đánh giá là tiêu thụ đồ nội và ngoại thất mạnh nhất.

    Cùng với đó một trong những thị trường chính yếu của ngành gỗ Việt là Bắc Mỹ cũng được nhận định tăng trưởng ổn định. Đó chính là cơ hội phát triển cho doanh nghiệp Việt thúc đẩy xuất khẩu.

    Nguồn: Tổng hợp

    Xem thêm

    + Ô nhiễm rác thải nhựa nghiêm trọng ở Việt Nam

    + Triển vọng từ nghề nuôi ngao

    + Báo giá máy đo độ mặn

    + Kit kiểm tra nhanh

  • Ô nhiễm rác thải nhựa nghiêm trọng ở Việt Nam

    Ô nhiễm rác thải nhựa nghiêm trọng ở Việt Nam

    Rác thải nhựa luôn là vấn đề nguy hại trên toàn cầu. Tại Vệt Nam ghi nhận trung bình mỗi năm lượng rác thải nhựa thải ra lên đến 1.8 triệu tấn. Với con số này đã đưa Việt Nam vào nhóm 20 nước có lượng rác thải lớn trên thế giới. Mức nguy cơ cao khi lượng rác thải nhựa cao hơn mức trung bình thế giới.

    Hiện nay nhiều hoạt động kinh doanh, sản xuất và tiêu dùng đang lạm dụng nhựa. Đặc trưng nhất là sản phẩm túi nilon, loại rác thải nhựa vô cùng khó phân hủy được sử dụng tràn lan một lần đang để lại những hậu quả rất nghiêm trọng gây ô nhiễm môi trường.

    Đánh giá của cơ quan chức năng về ô nhiễm rác thải nhựa nước ta hiện đang ở mức đáng báo động với lượng thải ra rất lớn. Hành động này để lại hệ lụy nặng nề cho môi trường. Hàng năm lượng chất thải rắn sinh hoạt thải ra tới 25 triệu tấn nhưng chỉ 30% trong số đó được xử lý theo cách đốt hoặc làm phân hữu cơ. Lượng lớn còn lại tới 70% xử lý theo cách chôn lấp. Rác thải nhựa, nilon chiếm 8-12% trong số chôn lấp này và liên tục tăng.

    Đại diện phía cơ quan chức năng cho biết ô nhiễm rác thải nhựa không thể đổ tại sản phẩm này mà phải xem lại cách thức sử dụng cũng như thải bỏ chưa đúng.

    Do đó cần có cách quản lý hiệu quả trong sử dụng, có những biện pháp tái sử dụng hiệu quả nhựa để kéo dài vòng đời của sản phẩm nhằm giảm thiểu tác động xấu đến môi trường.

    Kinh tế tuần hoàn cần được xem như là xu hướng tất yếu để phát triển bền vững. Trong đó tái sử dụng chất thải, coi chúng như tài nguyên kết hợp có sự tính toán trong hoạt động kinh tế tạo thành vòng tuần hoàn là cần thiết.

    Trong bối cảnh nguy cơ rác thải nhựa của Việt Nam rất cao. Trung bình mỗi gia đình sử dụng 1kg túi/tháng. Đặc biệt tại hai thành phố lớn là Hà Nội và TPHCM ghi nhận khoảng 80 tấn rác thải nhựa, túi nilon thải ra môi trường mỗi ngày.

    Trong số 8-12% lượng chất thải nhựa, túi nilon thải ra môi trường thì chỉ khoảng 11-12% trong số đó được tái chế xử lý, còn lại đa phần là đốt hoặc chôn lấp, thải ra môi trường. Con số này đáng báo động khi sẽ trở thành thảm họa ô nhiễm, đặc biệt là ô nhiễm đại dương.

    Để thực hiện được phương án kinh tế tuần hoàn cần có sự đồng bộ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Trong một khảo sát của cơ quan chức năng thống kê cho thấy nhóm hộ gia đình ý thức tốt hơn về vấn đề ô nhiễm rác thải nhựa so với doanh nghiệp.

    Do đó giới chuyên môn nhận định Việt Nam cần có phương án cụ thể hóa trong triển khai hoạt động kinh tế tuần hoàn.

    Đánh giá của cơ quan chức năng cho biết có tới 50-80% rác thải biển là từ nhựa. Và nước ta đứng thứ 4 trên thế giới về rác thải xả ra biển với khối lượng từ 0.28-0.73 triệu tấn/năm. Trong đó nguồn gây ô nhiễm lớn nhất từ nguồn thải ở đất liền, nguồn thải ở biển, du lịch biển.

    Nguồn: Tổng hợp

    Xem thêm

    + Triển vọng từ nghề nuôi ngao

    + Hai “thái cực” của doanh nghiệp ngành thủy sản

    + Máy đo độ mặn giá rẻ

    + Kit thử nhanh

  • Triển vọng từ nghề nuôi ngao

    Triển vọng từ nghề nuôi ngao

    Khu vực các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình sở hữu các bãi bồi cùng mặt nước biển lớn đang tạo những tiềm năng đáng kể trong nuôi trồng thủy sản. Đặc biệt là nghề nuôi ngao đang mang lại nguồn lợi nhuận tốt cho bà con nơi đây.

    Tại Đông Minh, Tiền Hải, Thái Bình, ông Tuyến được mệnh danh là “vua ngao” khi ông ở hữu tới 30 đầm nuôi thả ngao tự nhiên. Đợt Tết gia đình ông thu hoạch 1.500 tấn loại ngao thịt và hàng trăm tấn loại ngao giống. Với giá bán khoảng 12.000đ/kg loại nhỏ và loại to size 50 con/kg có giá tới 25.000đ/kg đã mang đến cho người nuôi nguồn lợi không nhỏ.

    Trên địa bàn xã Đông Minh, lãnh đạo xã cho biết hiện toàn diện tích nuôi ngao ước đạt 450ha. Ưu thế của nuôi ngao là giống rẻ, thức ăn sẵn từ tự nhiên, chi phí thấp nên người nuôi có lãi. Nhiều gia đình trong xã tập trung nuôi ngao thương phẩm xuất bán cho công ty trên địa bàn. Công ty chế biến và xuất khẩu ra nước ngoài, các thị trường như Tây Ban Nha, Bỉ, Italia. Không ít nông dân đã trở thành triệu phú nhờ ngao.

    Ở những vùng bãi bồi ven biển các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, không ít hộ nuôi đã có thu nhập tiền tỷ nhờ ngao. Anh Hinh ngụ tại địa bàn xã Kim Trung, Kim Sơn, Ninh Bình chia sẻ, đã 10 năm gắn bó với nghề nuôi ngao nhưng anh chưa bao giờ bị lỗ. Năm ngoái với diện tích 10ha ngao đã mang về cho gia đình anh lợi nhuận hơn 2 tỷ sau khi trừ hết các chi phí con giống, thức ăn, nhân công bảo vệ… Tuy nhiên anh cũng khẳng định vẫn có rủi ro khi nuôi ngao.

    Anh Tâm ngụ tại địa bàn xã Cồn Thoi, Kim Sơn sở hữu 10ha ngao khu vực bãi bồi cho biết nuôi ngao dễ “ăn” thật nhưng chẳng khác nào “đánh bạc với trời”. Tuy nhiên chỉ cần cơn bão qua đi, dịch bệnh kéo dài là có thể trắng tay. Tuy nhiên ngao nuôi lãi cao gấp 2-3 lần so với đầu tư. Gần đây, Trung Quốc mua ngao cỡ nhỏ nên rút ngắn thời gian thả còn 12 tháng nên cũng hạn chế bớt rủi ro.

    Nhiều người dân đã chuyển nghề lúa hiệu quả thấp sang nghề nuôi ngao thương phẩm đạt sản lượng cao và cho thu nhập tốt, từ 1-2 tỷ đồng/ha/năm.

    Trên địa bàn Giao Xuân, Giao Thủy, Nam Định cũng chứng kiến không ít những ngôi nhà cao tầng bề thế mọc lên. Đó là thành quả của những người dân nuôi ngao trên địa bàn xã. Một trong 4 vựa ngao lớn của toàn huyện.

    Đại diện huyện cho biết trên địa bàn Giao Xuân hiện có hàng trăm hộ nuôi ngao với nguồn thu từ 300-400 triệu đồng/ha/năm. Do đó với những hộ nuôi ngao diện tích lớn có thu nhập lên tới hàng chục tỷ đồng mỗi năm.

    Dù vậy các chuyên gia đánh giá mô hình nuôi ngao tập trung tại các khu vực Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình còn ở mức thấp. Đa phần các hộ nuôi theo mô hình tự phát, con giống chủ yếu dựa vào tự nhiên chứ chưa nhân giống nhân tạo được.

    Ngao thương phẩm nuôi ở các địa phương này mật độ thấp. Những hộ quảng canh thường gom giống ngao tự nhiên, mật độ thấp chỉ khoảng 25 con/m2.

    Ngoài ra có nuôi thả mật độ cao từ 500-600 con/m2. Đặc biệt hơn có hộ nuôi đến trên 1.000 con/m2. Do đó thời gian nuôi ngao bị kéo dài có khi đến 24, 28 tháng. trong khi đó thông thường ngao nuôi chỉ tối đa 18 tháng.

    Không những vậy nông dân các xã ven biển còn nuôi ngao ở những vùng không đủ điều kiện, ngoài quy hoạch. Ngao giống không tuyển chọn tại những nơi không rõ xuất xứ nguồn gốc, nguồn nước ô nhiễm chưa kiểm soát, điều kiện thời tiết phức tạp… Nên nhiều hộ nuôi vẫn chịu rủi ro thiệt hại.

    Nguồn: Tổng hợp

    Xem thêm

    + Hai “thái cực” của doanh nghiệp ngành thủy sản

    + Nông dân khốn khó vì nông sản mòn mỏi không có thương lái đến mua

    + Báo giá máy đo độ mặn

    + Kit kiểm tra nhanh

  • Hai “thái cực” của doanh nghiệp ngành thủy sản

    Hai “thái cực” của doanh nghiệp ngành thủy sản

    Với những nỗ lực cố gắng, ngành thủy sản đã chứng tỏ được những kết quả khả quan đáng kỳ vọng với con số gần 9 tỷ USD năm 2021. Tuy nhiên kết quả này đang phân chia hai “thái cực” doanh nghiệp đi lên và đi xuống.

    Những con số ấn tượng

    Kết quả xuất khẩu đạt con số 9 tỷ USD đã đưa ngành thủy sản tăng trưởng hơn 6% so với năm trước. Cụ thể với ngành tôm chiếm xấp xỉ 45% đạt 3.9 tỷ USD và ngành cá tra xấp xỉ 18% đạt 1.6 tỷ USD.

    Trong đó các doanh nghiệp trong ngành thủy sản phân chia thành hai “thái cực”. Doanh nghiệp nỗ lực vượt khó phục hồi mạnh mẽ và doanh nghiệp không thể trụ vững bởi hàng loạt chi phí đội giá lên cao.

    Với các doanh nghiệp thủy sản lớn hầu hết đều tập trung tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và phía Nam. Tuy nhiên thời điểm vừa qua đây lại là nơi hứng chịu những tổn hại khá nặng nề do dịch bệnh Covid-19 lần thứ 4. Doanh nghiệp đã phải hoạt động trong trạng thái cầm chừng.

    Nam Việt, một doanh nghiệp chuyên sản xuất, kinh doanh các mặt hàng cá tra. Suốt chặng đường năm 2021 đi qua là một năm đầy khó khăn thách thức với doanh nghiệp này. Lợi nhuận toàn quý III năm 2021 chỉ bằng 35% so với năm trước, lợi nhuận sau thuế âm 13 tỷ đồng. Do phải thực hiện 3 tại chỗ nên lượng công nhân làm việc tại nhà máy đã sụt giảm mạnh. Kéo theo hàng hóa của công ty bán ra cũng giảm mạnh. tác động dịch bệnh khiến các chi phí tăng cao như vận chuyển, tàu xe… đã đẩy giá bán hàng tăng lên 73%.

    Cùng cảnh ngộ, đơn vị xuất khẩu cá tra lớn hàng đầu Việt Nam là I.D.I cũng ghi nhận kết quả kinh doanh giảm mạnh, lãi ròng quý III cũng chỉ bằng 31% so với thời điểm năm trước.

    “Vua tôm” Minh Phú cũng thông tin trong báo cáo tài chính với chi phí bán hàng tăng 92% và đồng thời giảm lãi ròng 11%. Nguyên nhân gây ra chênh lệch chính là phí tàu tăng cao. Theo đó trong cả năm đã tăng vọt chi phí bán hàng lên 510 tỷ đồng, cao hơn 83% so với năm ngoái. Đồng thời chi phí quản lý doanh nghiệp cũng tăng 27% đưa lãi ròng giảm nhẹ còn 532 tỷ đồng.

    Ông Lực, đại diện doanh nghiệp thủy sản chia sẻ các doanh nghiệp thủy sản về đích có tâm thế hoàn toàn khác biệt. Một số doanh nghiệp mừng vì thắng lớn, một số doanh nghiệp cân nhắc trong giai đoạn mới, còn một số doanh nghiệp thì lo lắng vì chưa thể hoàn tất hợp đồng.

    Dù cả ngành thủy sản nỗ lực về đích nhưng số doanh nghiệp giữ thành tựu như trước đây không nhiều. Bởi nhiều yếu tố tác động như vật tư tăng, nhân công tăng, y tế cho kiểm soát dịch bệnh cũng tăng và chi phí thuê container rỗng đi các thị trường nước ngoài như EU, Bắc Mỹ tăng mạnh.

    Những doanh nghiệp tăng trưởng 

    Vượt qua những cản trở đó, nhiều doanh nghiệp ngành tôm, cá tra đã nhận kết quả vượt mong đợi, tăng cao hơn các năm trước. Minh chứng là các doanh nghiệp nhanh chóng khôi phục sản xuất và tăng tốc xuất khẩu trong 3 tháng cuối năm.

    Nổi danh dẫn đầu thị trường cá tra phải kể đến công ty Vĩnh Hoàn. Đơn vị luôn dẫn đầu với kết quả kinh doanh luôn cao hơn các đơn vị khác trong ngành đã càng ngày càng tiến xa hơn trong thời điểm cuối năm. Doanh thu thuần tăng xấp xỉ 40% lên ngưỡng 2.700 tỷ đồng.

    Với ngành tôm, Canimex và Sao Ta cũng duy trì đà tăng trưởng mạnh.

    Mức tăng doanh thu thuần của Sao Ta xấp xỉ 18%, lãi ròng xấp xỉ 27%, biên lợi nhuận ròng cũng tăng so với năm liền kề 5.5%.

    Canimex dù quy mô không bằng Sao Ta nhưng kết quả kinh doanh cũng đóng góp không nhỏ cho sự tăng trưởng của toàn ngành. Lãi ròng của doanh nghiệp Cà Mau này tăng hơn năm 2020 tới 38%, đạt ngưỡng 83 tỷ đồng. Tuy nhiên biên lợi nhuận ròng của doanh nghiệp cùng giảm nhẹ còn 3.7% so với năm liền kề trước đó.

    Tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản đặt chỉ tiêu tương đương 2021. Với ngành tôm, ông Lực đã thấy sự khởi sắc của doanh nghiệp và kỳ vọng đạt ngưỡng 4 tỷ đô.

    Nguồn: Tổng hợp

    Xem thêm

    + Nông dân khốn khó vì nông sản mòn mỏi không có thương lái đến mua

    + Lợn hơi không ngừng rớt giá thê thảm, giá thịt thì cao chót vót

    + Máy đo độ mặn giá rẻ

    + Kit thử nhanh

  • Nông dân khốn khó vì nông sản mòn mỏi không có thương lái đến mua

    Nông dân khốn khó vì nông sản mòn mỏi không có thương lái đến mua

    Những ngày này tại Phú Yên, Bình Thuận, bà con nông dân đang đứng ngồi không yên khi nông sản thanh long, dưa hấu đến vụ thu hoạch chẳng có thương lái đến mua, giá rớt thê thảm.

    Chỉ tay về phía ruộng dưa 150 sào, ông Trọng ngụ tại địa bàn xã Hòa Hội, Phú Hòa rầu rĩ chia sẻ về gần 170 tấn dưa hấu vào vụ thu hoạch nhưng chẳng có thương lái đến thu mua.

    Nhiều cơ quan đoàn thể cùng các đơn vị mua ủng hộ mang đi từ thiện được giá 2.000đ/kg nhưng cũng chỉ giới hạn được đôi, ba chục tấn. Hiện ruộng dưa nhà ông vẫn còn cả trăm tấn đang lăn lóc mà chả có ai hỏi mua.

    Ông cho biết đã gần chục năm trồng dưa hấu, chưa bao giờ ông gặp tình cảnh dưa rớt giá thê thảm như năm nay. Với mỗi sào dưa tiềm đầu tư mất 9.5-10 triệu đồng. Những năm trước giá dưa cả vụ thông thường dao động từ 8-12.000đkg mang lại nguồn thu cho gia đình ông khoảng 200 triệu đồng. Thế nhưng năm nay, nếu bán được giá dưa 2.000đ/kg thì gia đình ông phải bù lỗ chừng 7-800 triệu.

    Ròng rã mấy tháng trời chăm sóc nhưng đến kỳ thu hoạch lại chẳng có người mua, nhìn hàng trăm tấn dưa lăn lóc ngời ruộng xót mà chẳng có cách nào. Chỉ ngồi mong có ai mua được ít nào hay ít đấy.

    Cũng trong cảnh ngộ chẳng khá khẩm hơn, ông Đa ngụ tại Phan Thiết, Bình Thuận chia sẻ, gia đình ông bán thanh long với giá chỉ 2.000đ/kg, hiện mới tiêu htuj được 6 tấn, còn khoảng 10 tấn đang chờ thương lái. Ông cho biết đây là vụ thanh long trái mùa, làm vốn tốn kém do phải thắp đèn cho thanh long trổ hoa, kết trái. Do đó nếu hòa vốn thì thanh long phải bán được giá 6-8.000đ/kg. Ấy thế mà nay chỉ bán được 2.000đ/kg, thậm chí còn chẳng có thương lái đến mua, số còn lại chín quá không bán kịp thì chỉ còn nước cho bò ăn hoặc ủ làm phân.

    Không chỉ tại các vườn dưa hấu, thanh long giá lao dốc mà khắp nơi đều rao bán loại trái cây này với giá rất rẻ. Dọc trục đường Nguyễn Kiệm hay Phan văn Trị (Gò Vấp, TPHCM), thanh long cũng được bán đổ đống giá chỉ 3.000đ/kg.

    Trên “chợ mạng”, thanh long được rao bán theo thùng giá 70-100.000đ/thùng 20kg. Như thế mỗi kg thanh long tính ra chỉ có giá 3.5-5.000đ/kg.

    Trên sạp của các hệ thống siêu thị cũng áp dụng giá giảm hỗ trợ bà con tiêu thụ dưa hấu, thanh long. Tại Big C, dưa hấu được bán hỗ trợ cho bà con Gia Lai giá chỉ 6.900đ/kg và được rất nhiều người tiêu dùng ủng hộ chọn mua.

    Tìm hiểu nguyên nhân khiến các loại trái cây rớt giá mạnh như thanh long, dưa hấu thì nguyên nhân chính là cửa khẩu Lạng Sơn đã tạm dừng tiếp nhận thêm xác phương tiện xuất khẩu hoa quả tươi từ giữa tháng 2 đến đầu tháng 3.

    Phía cơ quan chức năng tỉnh Lạng Sơn cho biết, 4 cửa khẩu tại Lạng Sơn đang tích cực tiến hành các hoạt động thông quan hàng hóa.

    Nhưng phía nước bạn Trung Quốc tiến hành phòng dịch chống nghiêm ngặt như xét nghiệm, khử khuẩn hàng hóa, giao nhận theo phương thức hạn chế tiếp xúc. Không những vậy nông sản xuất khẩu còn phải kiểm hóa 100%. Những thủ tục này đã kéo dài thời gian thông quan nên hiệu suất đạt thấp.

    Theo cơ quan chức năng thống kế đến ngày 23.2.2022, 3 cửa khẩu Hữu Nghị, Chi Ma, Tân Thanh có tổng lượng xe chờ xuất khẩu là 1.764 xe. Riêng xe chở hoa quả chiếm 76% với lượng xe chờ là 1.352 xe.

    Nguồn: Tổng hợp

    Xem thêm

    + Lợn hơi không ngừng rớt giá thê thảm, giá thịt thì cao chót vót

    + Ngành thủy sản nỗ lực vượt đại dịch

    + Báo giá máy đo độ mặn

    + Kit kiểm tra nhanh

  • Lợn hơi không ngừng rớt giá thê thảm, giá thịt thì cao chót vót

    Lợn hơi không ngừng rớt giá thê thảm, giá thịt thì cao chót vót

    Thị trường ghi nhận lợn hơi tiếp đà rớt giá thấp thê thảm, xuống ngưỡng trung bình chỉ ở mức xấp xỉ 55.000đ/kg. Thế nhưng nghịch lý khi người tiêu dùng ở chợ vẫn phải mua thịt giá cao chót vót.

    Lợn hơi tụt giá không phanh

    Các doanh nghiệp và trang trại nuôi lợn cho biết từ thời điểm sau Tết đến nay, giá lợn hơi không ngừng lao dốc. Ghi nhận ở thời điểm ngày 24.2, giá lợn hơi giả liên tiếp xuống 1-2.000đ/kg ở khắp các tỉnh thành trên toàn quốc.

    Hiện nhiều tỉnh thành phía Bắc ghi nhận mức giá bán lợn hơi thấp nhất, ở ngưỡng 51-55.000đ/kg. Mức giá lợn hơi cao ở ngưỡng 55.000đ/kg chỉ duy trì ở các tỉnh nam Định, Thái Bình, Bắc Giang. Còn ngưỡng lợn hơi thấp nhất 51.000đ/kg ghi nhận ở Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Phúc, Hà Nam. Những tỉnh thành còn lại ghi nhận giá heo hơi phổ biến ở ngưỡng 53-54.000đ/kg.

    Khu vực Trung Bộ, tại Nghệ An ghi nhận giá lợn hơi giảm thấp hơn 2.000đ/kg, tại Hà Tĩnh và Huế giá lợn hơi giảm thấp hơn 1.000đ/kg, còn ở ngưỡng 54.000đ/kg.

    Khu vực miền Trung – Tây Nguyên ghi nhận giá lợn hơi ở ngưỡng 54-55.000đ/kg.

    Khu vực các tỉnh phía Nam ghi nhận mức giá lợn hơi phổ biến ở ngưỡng 54-56.000đ/kg/ Mức giá cao nhất tại các tỉnh Đồng Nai, Long An, TPHCM; mức giá thấp nhất tại các tỉnh Vũng Tàu, An Giang, Hậu Giang, Bình Định. Các tỉnh còn lại mức giá ghi nhận ở ngưỡng 55.000đ/kg.

    Thịt tại chợ giá vẫn “trên trời”

    Dù giá lợn hơi liên tiếp giảm tại khắp các tỉnh thành nhưng giá thịt tại chợ vẫn cao chót vót, các tiểu thương hầu như phớt lờ, giá thịt vẫn neo cao. Một thương lái cho biết khi giá lợn hơi ở ngưỡng 54.000đ/kg thì giá bán lẻ thịt ở chợ từ 70-100.000đ/kg là đảm bảo có lãi. Tuy nhiên giá lợn hơi điều chỉnh giảm hàng ngày nhưng giá thịt ở chợ sẽ điều chỉnh chậm hơn.

    Chị Mai, một tiểu thương kinh doanh sạp thịt tại khu chợ Hà Đông, Hà Nội chia sẻ, giá thịt lợn bán ở chợ không điều chỉnh từng ngày mà tùy theo từng đợt. Bởi khi giá lợn hơi tăng, người bán kẻ cũng chưa điều chỉnh tăng ngay, phải chờ một thời gian. Nên khi giá lợn hơi giảm cũng vậy, người bán lẻ sẽ điều chỉnh giảm chậm hơn. Bởi nếu điều chỉnh trồi, sụt biến động liên tiếp theo ngày sẽ gây tâm lý hoang mang cho người tiêu dùng.

    Hơn nữa chia sẻ về nguyên nhân giá thịt bán tại chợ vẫn cao, ông Hùng, một chủ đầu mối kinh doanh thịt tại chợ Đền Lừ, Hoàng Mai, Hà Nội cho biết, lợn hơi có giảm giá nhưng lợn móc hàm cũng chẳng hề giảm, vẫn được bán 80.000đ/kg tại chợ đầu mối. Với mức giá này thì buộc người bán lẻ vẫn phải để giá 90-130.000đ/kg thì mới có lãi.

    Thế nhưng phía các thương lái thì lại cho rằng các tiểu thương bán lẻ bao biện. Bởi lợn móc hàm tại chợ đầu mối giá đã giảm dưới 80.000đ/kg.

    Thực tế ghi nhận tại chợ đầu mối Tân Xuân, Đồng Nai cho thấy lượng thịt heo tiêu thụ trong chợ chừng 3.780 con và giá cân móc hàm dao động từ 51-70.000đ/kg tùy theo chất lượng lợn.

    Còn tại Hà Nội cũng có thông tin chia sẻ giá lợn móc hàm ở chợ đầu mối chỉ 75.000đ/kg. Tuy nhiên tiểu thương vẫn “nói vống” về mức giá nhập như cũ và người tiêu dùng chính là nạn nhân bị “móc túi”.

    Nguồn cung heo hiện nay nhiều và sức tiêu thụ chậm chính là nguyên nhân đẩy giá heo hơi giảm sâu. Khi các tiểu thương cố tình neo giá thịt cao vô lý tại chợ là càng là nguyên nhân khiến sức tiêu thụ heo chậm hơn. Khi đó vòng quẩn quanh dư thừa nguồn cung, giá giảm sẽ tiếp diễn, chỉ người chăn nuôi là chịu thua thiệt và lỗ nặng nhất, chủ một trang trại nuôi heo tại Bình Thuận chia sẻ.

    Nguồn: Tổng hợp

    Xem thêm

    + Ngành thủy sản nỗ lực vượt đại dịch

    + Giá “chát” nhưng đầu vụ, mận cơm vẫn đắt khách

    + Máy đo độ mặn giá rẻ

    + Kit thử nhanh

  • Ngành thủy sản nỗ lực vượt đại dịch

    Ngành thủy sản nỗ lực vượt đại dịch

    Người nông dân Việt với bản tính cần cù, sáng tạo nên dù trong bối cảnh khó khăn, họ vẫn nỗ lực vượt qua. Đặc biệt với những người nuôi tôm hiện nay.

    Đại diện công ty thủy sản, ông Lực chia sẻ hiện ngành thủy sản nói chung và ngành tôm nói riêng đang chịu nhiều tác động khó khăn bởi dịch bệnh Covid-19.

    Người nuôi hiện đang gặp khó trong tiếp cận nguồn lực để nuôi thả lứa mới. Cùng với đó là khó khăn trong vận chuyển, giá cả biến động nên người nuôi còn lo lắng không biết có nên tiếp tục hay không. Những tác động từ thị trường trong và ngoài nước biến động khôn lường cũng gây ảnh hưởng tâm lý với người nuôi. Bởi không ít người nuôi đã trải qua giai đoạn khó khăn khi tôm đến kỳ thu hoạch nhưng giá rớt thê thảm khiến họ lâm cảnh thua lỗ nặng.

    Khảo sát thị trường cho thấy các đơn vị cung ứng giống đều ưu đãi với giá giảm 50%. Điều này cho thấy giá giống và thức ăn nuôi đang giảm rất sâu. Nhằm kích cầu người nuôi tiếp tục nuôi thả tôm vụ mới.

    Phía các doanh nghiệp xuất khẩu thì cho biết hiện nhiều thị trường như Mỹ, châu Âu, Nhật đang trong giai đoạn phục hồi kinh tế nhanh sau khi trải qua thời kỳ dịch bệnh dần được khống chế. Nhu cầu với các mặt hàng nhập khẩu như tôm tăng cao. Do đó thời gian tới sẽ là cơ hội cho các sản phẩm thủy sản đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.

    Do đó tới đây khi kiểm soát tốt dịch bệnh người nuôi hoàn toàn có thể nuôi trái vụ, kết hợp tiến bộ kỹ thuật vượt qua rủi ro để đón đầu vụ tôm tăng giá. Đây là cơ hội cho những người nuôi thức thời đón đầu thời cơ.

    Cùng với đó các doanh nghiệp cũng đã có nhiều kinh nghiệm thương trường nên dễ dàng vượt qua khó khăn trong giai đoạn này. Nguồn cung tôm hiện không hoàn toàn đứt gãy mà tạm thời sụt giảm, sẽ nhanh chóng tăng trưởng trở lại.

    Về việc huy động lực lượng lao động để đảm bảo sản xuất, ông Lực cho biết hoạt động nuôi tôm và chế biến vẫn phải tiến hành. Dù một số lao động phải nghỉ việc gián đoạn nhưng sẽ nhanh chóng ổn định. Nhiều lao động đã có tâm lý dao động, chuyển đi làm ăn xa về gần gia đình và bối cảnh này sẽ tác động khiến họ tìm công việc an toàn, gần nhà hơn. Do đó đây hoàn toàn là điều kiện tốt để doanh nghiệp có thể dễ dàng thu hút nguồn lao động đảm bảo hoạt động sản xuất bình thường.

    Thực tế hiện nay với các doanh nghiệp sản xuất chế biến cần nguồn nhân lực lớn cũng bị tác động không nhỏ bởi dịch bệnh. Công tác phòng chống dịch cũng khó khăn hơn. Đã có giai đoạn doanh nghiệp phải chấp nhận chống dịch hiệu quả thì phải kéo dài thời gian sản xuất. Doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng kinh tế bởi do chỉ giới hạn một số lượng lao động nhất định. Tuy nhiên tình trạng này đang dần cải thiện và giúp các doanh nghiệp sản xuất bình ổn nhân lực và phát triển kinh tế. Đảm bảo đủ đáp ứng nguồn cung ứng ra thị trường quốc tế.

    Nguồn: Tổng hợp

    Xem thêm

    + Giá “chát” nhưng đầu vụ, mận cơm vẫn đắt khách

    + Dịch vụ osin hét giá trên trời, chị em nội trợ bấn loạn

    + Báo giá máy đo độ mặn

    + Kit kiểm tra nhanh