Category: Trong Nước

  • Ngành cơ khí chế tạo Việt Nam mãi vẫn không “chịu” phát triển

    Ngành cơ khí chế tạo Việt Nam mãi vẫn không “chịu” phát triển

    Tính đến nay ngành cơ khí chế tạo Việt Nam đã có hơn 15 năm tuổi nghề, song chúng ta vẫn chưa thấy được bước chuyển mình phát triển của ngành này

    2

    Trên thực tế chúng ta vẫn chưa có thể tự thân mình vận động chế tạo ra được những sản phẩm mang tính chất lượng để cạnh tranh với quốc tế, năm này qua năm khác chúng ta cũng chỉ mới nhận hàng về gia công và lắp ráp

    Những cơ hội có sẵn                                                                                                                      

    Nền kinh tế của Việt Nam đang hội nhập với toàn thế giới, từ những hiệp định, hiệp ước kí kết thương mại quốc tế tạo điều kiện để Việt Nam đón chào hàng loạt những doanh nghiệp lớn và nhỏ trên toàn thế giới ồ ạt đầu tư vào. Đây là cơ hội mà đồng thời cũng là thách thức cho các doanh nghiệp ngành cơ khí trong nước. Nếu chúng ta biết đổi mới và cải cách, chắc chắn ngành cơ khí Việt Nam sẽ có cơ hội chuyển mình vươn lên hàng đầu

    Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng, Việt Nam là một nước đang có rất nhiều lợi thế so với các nước trong khu vực để phát triển ngành cơ khí. Chúng ta là một đất nước được thiên nhiên ưu ái ban cho một nguồn nguyên nhiên liệu dồi dào, có vị trí địa lí thuận lợi, là nơi giao thương của cửa ngõ kinh tế Đông Nam Á, khí hậu ôn hòa, không quá khắt nghiệt, tình hình an ninh chính trị ổn định

    Bên cạnh đó nhờ kí kết hiệp định thương mại (TPP), đã mang lại cho chúng ta nhiều hợp đồng xuất khẩu tương đối lớn. Nhiều dự án nhà máy thép đã và đang được triển khai đầu tư như luyện thép Fomusa 7,5 triệu tấn/năm, thép Nghi Sơn 7 triệu tấn/năm…

    Đánh giá về những cơ hội của Việt Nam, ông Atsusuke Kawada, Trưởng đại diện văn phòng Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật Bản (JETRO) tại Hà Nội cũng cho rằng, với tất cả những lợi thế như trên Việt Nam đang là nước có được những ưu đãi để phát triển ngành cơ khí, chế tạo và sản xuất ra nhiều sản phẩm có chức lượng toàn cầu

    Giáo sư, tiến sỹ Võ Thanh Thu, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, mặc dù hiện nay Việt Nam đang có được những lợi thế như vậy, song chúng ta cần có kế hoạch để nắm bắt hiệu quả các cơ hội đó. Để thực sự giúp ngành cơ khí Việt Nam nắm bắt được cơ hội này thì các cơ quan chính phủ ta phải chủ động trong việc thu hút đầu tư có chọn lọc kĩ càng, không nên ồ ạt kí kết hợp đồng. Bên cạnh đó chúng ta phải có biện pháp cải tiến môi trường kinh doanh, đầu tư giáo dục nâng cao tay nghề cho đội ngũ công nhân, chú trọng phát triển, đãi ngộ nguồn nhân lực có tay nghề kĩ thuật cao.

    Nhờ hiệp định TPP, Việt Nam sẽ là cửa ngõ cho sản phẩm của các nước liên khu vực có cơ hội giao thiệp với nhau

    Theo JETRO, nắm bắt được thông tin này, cho nên hơn 66% doanh nghiệp Nhật Bản đang muốn đầu tư vào Việt Nam và có kế hoạch mở rộng kinh doanh. JETRO đã liên tục cử các đoàn khảo sát đầu tư sang Việt Nam.

    “Là một nước đi trước và có thể xem rằng đã đạt được một số thành công nhất định trong ngành nên chúng tôi đang xem xét việc lựa chọn 1.600 doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản để hỗ trợ các nước đang phát triển cải tiến nâng cao chất lượng các mặt hàng sản xuất và cả phi sản xuất, nhờ sự hợp tác này tôi tin số lượng các hợp đồng sẽ không ngừng gia tăng trong thời gian tới” ông Atsusuke Kawada cho biết.

    Trên thực tế, nhiều năm qua các công ty đa quốc gia đã dần dần chuyển sang xu thế đầu tư và hợp tác với các nước trong khu vực Đông Nam Á như Việt Nam, Lào, Myanmar, Campuchia,…

    Đi đầu trong xu hướng đó là tập đoàn điện tử Samsung với 5,7 tỷ USD vốn đầu tư, hãng điện tử LG Electronics với hơn 1,5 tỷ USD, Foxconn, Canon, Microsoft cũng tiến hành kế hoạch đầu tư tại Việt Nam với hàng tỷ USD. Điều này sẽ góp phần nào đó giúp cho ngành cơ khí Việt Nam phát triển nếu chúng ta biệt tận dụng và học hỏi trình độ công nghệ kĩ thuật hiện đại của họ.

    Kiên quyết từ chối các dự án đầu tư có công nghệ thấp

    Theo giáo sư, tiến sỹ Võ Thanh Thu, đứng trước những lợi thế và cơ hội như thế, làm thế nào để Việt Nam tận dụng hiệu quả nó cũng là một bài toán cần đặt ra trước tiên vì song song với những cơ hội luôn là thách thức đi kèm.

    Bởi lẽ, về cơ bản, Việt Nam vẫn đang còn lay hoay với những đơn hàng nhận gia công và lắp ráp từ các nước khác. Như vậy chúng ta vẫn chưa có biện pháp và chính sách đột phá để phát triển ngành cơ khí chế tạo.

    Theo báo cáo trình độ và năng suất lao động ở Việt Nam còn thấp hơn các nước trong khu vực,cụ thể tỷ lệ nội địa hóa chỉ ở mức 30%, trong khi đó Trung Quốc (64%), Thái Lan (53%), Malaysia (42%),…

    Thứ trưởng Cao Quốc Hưng thừa nhận ngành cơ khí Việt Nam đã ra đời hơn 15 năm, song ngành này vẫn chưa gặt hái được nhiều thành công như mong đợi bởi nhiều lí do, song lí do chủ quan vẫn là chúng ta còn hạn chế trong tay nghề, mặc dù có nguồn nhân lực dồi dào, nhưng chất lượng lại không có, thiếu hụt nhân công có trình độ tay nghề cao, chủ yếu là tay nghề phổ thông.

    Với trình độ tay nghề còn non yếu, chúng ta chủ yếu nhận hàng gia công, sơ chế và lắp ráp, thua xa với các nước trong khu vực như Thái Lan, Lào, Campuchia,… Còn những mặt hàng sản xuất linh kiện điện tử, phụ tùng lại chưa đủ chất lượng để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu

    Theo số liệu báo cáo của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), năm 2014, bình quân giá trị gia tăng hàng công nghiệp/người của Việt Nam là 245 USD, trong khi mức bình quân của 10 nước ASEAN là 1.958 USD và bình quân 6 nước ASEAN là 2.708 USD

    Như vậy từ số liệu báo cáo như trên ta có thể thấy được Việt Nam chỉ đạt được 13% trung bình so với các nước trong khu vực ASEAN.

    Điều này cũng cho thấy mặc dù có được những thuận lợi và cơ hội nhất định, ngành cơ khí cũng chiếm tỷ trọng cao trong các mặt hàng xuất khẩu song giá trị từ ngành này đem lại rất thấp, không có đóng góp nhiều cho nền kinh tế nước nhà

    Cũng theo ông Đào Phan Long, Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí Việt Nam, chúng ta cần sớm có những biện pháp và chính sách áp dụng để phát triển ngành cơ khí Việt Nam. Điều quan trọng là chúng ta phải có một hệ thống chính sách đồng bộ và quy hoạch cụ thể về phát triển cơ khí. Đồng thời khi có những chính sách thu hút vốn đầu tư chúng ta cần chọn lọc đối tượng, lựa chọn những tập đoàn có trình độ công nghệ cao, quy trình sản xuất hiện đại, phát triển đồng thời phải có biện pháp bảo vệ môi trường. Phải kiên quyết từ chối những doanh nghiệp nhỏ, trình độ còn non yếu, giá trị gia tăng thấp, tác động xấu đến tài nguyên môi trường của nước ta.

    Theo ông Đào Phan Long, thay vì ôm đồm sản xuất mọi mặt hàng của ngành cơ khí thì các doanh nghiệp nên lựa chọn một mặt hàng chủ chốt để chú trọng đầu tư sản xuất đem lại hiệu quả cao nhất

    Khi lựa chọn mặt hàng đầu tư cần phải nhạy bén nắm bắt thị trường để lựa chọn được những mặt hàng tiêu biểu mà thị trường đang cần. Một trong những mặt hàng cơ khí là thế mạnh của Việt Nam như đóng tàu, kết cấu thép,…các doanh nghiệp cần bố trí và ưu tiên cơ sở vật chất cũng như nhân lực để phát triển hơn nữa

    Cùng với đó là mục tiêu đáp ứng được 45-50% nhu cầu tiêu thụ trong nước vào năm 2020, đáp ứng 60% vào năm 2030, Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng chỉ đạo các doanh nghiệp trong nước cần đầu tư lớn mạnh vào các mặt hàng như máy động lực, cơ khí phục vụ nông, lâm ngư nghiệp và công nghiệp chế biến, cơ khí đóng tàu, thiết bị điện-điện tử và cơ khí ô tô

    Đồng thời chúng ta cần biết tận dụng triệt để lợi thế mà các hiệp ước đem lại để chúng ta có cơ hội nhận được sự đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia trên toàn thế giới. Từ đó các doanh nghiệp trong nước sẽ tiếp thu được trình độ công nghệ hiện đại mà họ đem lại.

    Kieutruc

  • Các doanh nghiệp Nhựa Việt Nam bị Thái Lan “thâu tóm”

    Các doanh nghiệp Nhựa Việt Nam bị Thái Lan “thâu tóm”

    Theo báo cáo nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp Nhựa Thái Lan đang đổ xô vào thị trường Việt Nam. Vượt qua những đối thủ nặng kí trong ngành như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan đang dần thâu tóm thị trường nhựa của nước ta

    Theo như hiệp hội Nhựa Việt Nam, ngành Nhựa của chúng ta đang đứng trước nguy cơ bị thâu tóm rất lớn, đặc biệt chúng ta phải đối mặt với một đối thủ lớn mạnh trong ngành là Thái Lan. Lấy lí do là chung vốn để phát triển nhưng thật ra Thái Lan đang muốn thâu tóm và chiếm lĩnh thị trường Nhựa của nước ta

    2

    Dựa dẫm để tái cơ cấu

    Mặc dù chúng ta không thể biết chính xác có bao nhiêu doanh nghiệp đã về tay Thái Lan vì hơn 99,8% doanh nghiệp Nhựa của chúng ta là doanh nghiệp tư nhân, bên cạnh đó có tỉ lệ góp vốn cũng không cố định gây khó khăn cho việc xác định. Tuy nhiên theo một số thông tin thì doanh nghiệp nhựa hàng đầu của Thái Lan SCG đã bỏ vốn vào hơn 20 doanh nghiệp của ta. Năm 2015 SCG đã mua hơn 80% cổ phần của công ty nhựa Tín Thành (là một công ty trong top đầu của ngành Nhựa bao bì), hơn thế nữa SCG cũng góp vốn vào 4 doanh nghiệp khác như: Liên doanh Việt – Thái Plastchem, Nhựa và Hóa chất TPC Vina, Chemtech và Vật liệu nhựa Minh Thái.

    Không dừng ở đó, SCG cũng góp hơn 20% cổ phần tại công ty nhựa Bình Minh, gần 25% cổ phần công ty nhựa Tiền Phong. Nếu SCG tiếp tục tăng cổ phần góp vào hai công ty này thì không bao lâu sau ngành nhựa Việt Nam sẽ chịu sự chi phối hoàn toàn của SCG vì hiện nay Bình Minh và Tiền Phong là hai doanh nghiệp nắm 50% của phần của toàn ngành Nhựa nước ta.

    Với tham vọng sẽ thâu tóm toàn ngành Nhựa nước ta, hiện nay SCG và nhiều doanh nghiệp Thái Lan đang tiếp tục thâu gom cổ phiếu của nhiều doanh nghiệp Việt. Một số doanh nghiệp Thái đã trực tiếp lên tiếng muốn mua lại những cổ phần mà nhà nước sẽ thoái vốn lại cho các doanh nghiệp trong năm 2016

    Ông Trần Việt Anh – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Nam Thái Sơn, Phó Chủ tịch Hội Cao su – Nhựa TP HCM – cho biết Việt Nam hiện nay có trên 3.000 doanh nghiệp Nhựa, doanh thu đạt hàng năm là trên 250.000 tỉ đồng/năm. Vì đặc thù của ngành Nhựa nên hiện nay trên 99,8% doanh nghiệp Nhựa là doanh nghiệp tư nhân và cổ phần. Trong đó có gần 100 doanh nghiệp lớn, chiếm phần lớn cổ phần trong toàn ngành, vì thế mộng của Thái Lan là thâu tóm được 100 doanh nghiệp trong top này để độc quyền toàn ngành

    Theo ông Việt Anh, các doanh nghiệp Thái Lan có thể nhanh chóng thâu tóm, mua số lượng lớn cổ phần của các doanh nghiệp Nhựa của ta ngoài yếu tố các doanh nghiệp Thái có tiềm lực về kinh tế, chịu chi mạnh thì  một yếu tố khách quan từ phía ta là các doanh nghiệp của ta không tự tin trong cạnh tranh, lo sợ trước những thách thức, không có đội ngũ kế thừa tiềm lực. Ngoài ra với tình hình khó khăn chung của toàn ngành kinh tế thì gần đây các doanh nghiệp nước ta có biểu hiện đuối sức, năng lực sản xuất giảm sút, doanh thu và hợp đồng đầu ra cũng theo đó mà giảm theo. Đứng trước tình hình này các doanh nghiệp Việt Nam phải lựa chọn giữa việc bán cổ phần-hay phá sản.

    Lợi thế hội nhập bị nước ngoài lợi dụng

    Ông Hồ Đức Lam – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Nhựa Rạng Đông, Chủ tịch Hiệp hội Nhựa Việt Nam cho rằng các doanh nghiệp Thái Lan ồ ạt góp vốn, mua cổ phần ở các doanh nghiệp Việt Nam ngoài việc Việt Nam là một thị trường tiềm năng béo bở, có nguồn lực lao động dồi dào thì nguyên nhân chính vẫn là Việt Nam vừa kí kết các hiệp định thương mại mới (TPP), nó sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ta mở rộng giao thương với nhiều nước trên thế giới, có được một thị trường đầu ra vững bền.

    Mặc dù là nước đang phát triển và gặp phải những khó khăn nhất định song tốc độ phát triển ngành nhựa nước ta khá là khả quan khi mà tốc độ tăng trưởng 15%-17%/năm. Bên cạnh đó mức tiêu thụ nhựa hiện nay của nước ta là 41kg/người/năm, thấp hơn nhiều so với thị trường châu Âu là 100kg/người/năm những lại ngang bằng so với mặt bằng chung của thế giới là 46kg/người/năm.

    “Nhiều nhà đầu tư Thái đang ồ ạt tấn công vào thị trường Việt Nam, trong đó tập chung nhiều vào ngành hàng Nhựa và Dệt may. Mặc dù là các doanh nghiệp đi chinh chiến ở thị trường nước ngoài nhưng các doanh nghiệp Thái Lan rất đồng lòng, họ liên kết với nhau trong toàn bộ khâu sản xuất ở các nhà máy chính vì vậy hiệu quả sản xuất rất cao. Ngoài ra với lợi thế là doanh nghiệp có tiềm lực kinh tế hơn nên họ o ép các doanh nghiệp của ta. Nhiều công ty lớn trong ngành của ta không trụ vững với sự cạnh tranh này nên đã nhanh chống về tay các doanh nghiệp Thái. Còn những những nghiệp khá hơn tí thì vẫn đang ngày ngày gồng mình lên để cạnh tranh với doanh nghiệp Thái, họ gặp nhiều khó khăn, có nguy cơ thua thiệt, bị đẩy ra khỏi sân chơi hội nhập này” ông Lam nhìn nhận

    Theo nhiều nhận định, doanh nghiệp Thái Lan và doanh nghiệp Việt Nam không có sự chênh lệch về trình độ công nghệ kỹ thuật, doanh nghiệp Thái cũng chưa phổ biến công nghệ hiện đại vào các doanh nghiệp mà họ góp vốn. Thực tế, hiện nay các doanh nghiệp ngoại có 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm 15%, tuy vậy họ lại chiếm đến 40% tổng vốn đầu tư toàn ngành. Như thế ta có thể thấy được dù nhiều hơn về số lượng những chúng ta đều là những doanh nghiệp nhỏ lẻ, cổ phần ít và không có tiếng nói trong ngành.

    “Trong khi đó năm 2016, nhà nước ta sẽ thoái lại vốn cho các doanh nghiệp tư nhân, điều này sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Thái nhanh chóng thâu tóm toàn ngành Nhựa nước ta. Bên cạnh yếu tố có tiềm lực về kinh tế, các doanh nghiệp Thái Lan còn được tạo điều kiện để vay ưu đãi từ nguồn vốn chính phủ ở nước họ, có những khoản vay chỉ chịu mức lãi suất 1%, thậm chí là lãi suất 0%. Trong khi đó các doanh nghiệp nước ta phải chật vật đi vay với những khoảng vay lãi suất từ 6%-7%. Như vậy có thể thấy được việc chúng ta khó lòng mà cạnh tranh được với doanh nghiệp Thái” ông Việt Anh so sánh.

    Để giải quyết và khắc phục tình hình đó, Hội Cao su – Nhựa TP HCM đã đề xuất Thành phố nên quy hoạch một khu công nghiệp cho ngành nhựa, ở đó sẽ tập chung nhiều công ty trong ngành, họ sẽ hỗ trợ và giúp đỡ nhau trong sản xuất để giảm thiểu tối đa mức chi phí bỏ ra, hạ giá thành sản phẩm để cạnh tranh với các doanh nghiệp Thái. Bên cạnh đó ông Việt Anh còn gửi đơn kiến nghị chính phủ áp dụng chính sách ưu đãi lãi suất vay cho các doanh nghiệp Việt Nam để họ có cơ hội cạnh tranh công bằng, giảm áp lực tài chính, dồn sức lực để cạnh tranh với doanh nghiệp Thái Lan.

    Kieutruc

  • “Đông Nam Á” đế chế mới của ngành công nghiệp Dệt may

    “Đông Nam Á” đế chế mới của ngành công nghiệp Dệt may

    Theo một số chuyên gia nhận định, năm 2015 bản đồ ngành công nghiệp Dệt may thế giới đã có những sự chuyển biến và thay đổi lớn. Cụ thể là số lượng xuất khẩu ngành dệt may của các nước Đông Nam Á vào EU tăng nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng

    1

    Có rất nhiều yếu tố làm thay đổi tấm bản đồ đó, nhưng nhìn chung ta có thể thấy được nền kinh tế thế giới đang có biến động do sư tăng giá của đồng USD so với euro, giá dầu mỏ thế giới giảm mạnh, nhiều hiệp định, hiệp ước thương mại được kí kết cùng với đó là chi phí lương cho nhân công tăng cao,…vì thế không khó để chúng ta thấy được việc tất yếu các doanh nghiệp dệt may thế giới đang dần mở rộng thị trường ở Đông Nam Á

    Hiện nay Trung Quốc vẫn đang là quốc gia nắm giữ số lượng xuất khẩu ngành Dệt may lớn vào thị trường Châu Âu. Tuy nhiên do chịu ảnh hưởng và sự cạnh tranh gây gắt từ những biến động của kinh tế thế giới nên hiện nay Trung Quốc đã không còn là thị trường xuất khẩu béo bở đối với các nước phương Tây. Trong khi đó Châu Âu lại đang có xu hướng chuyển dần sang các đối tác là các nước Đông Nam Á

    Vào năm 2015, tỷ giá của đồng USD tăng cao so với đồng euro, có những thời điểm đồng USD tăng lên hơn 20% so với đồng euro. Đây là một trong những nguyên nhân lớn tạo ra sự thay đổi cục diện của ngành Dệt may. Khi đồng USD tăng cao đồng nghĩa với việc giá của các sản phẩm may mặc tại thị trường (EU) tăng cao vì các sản phẩm này được xuất khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, Bangladesh hay Campuchia, nơi mà các sản phẩm xuất khẩu đều giao dịch bằng đồng USD. Do đó, kim ngạch xuất khẩu ngành Dệt may từ Trung Quốc vào liên minh Châu Âu (EU) giảm về số lượng nhưng lại tăng về giá trị (tăng 7% so với cùng kì năm 2014).

    Theo một cuộc điều tra do Viện thời trang Pháp (IFM) thực hiện vào cuối năm 2015, 64% doanh nghiệp phân phối nhận định rằng do sự ảnh hưởng từ việc đồng ngoại tệ, cụ thể là đồng USD tăng sẽ khiến cho giá bán lẻ của các sản phẩm may mặc, dệt may tăng cao, vì thế họ có ý định giảm bớt hoặc ngừng hẳn việc nhập khẩu hàng hóa từ các nước giao dịch bằng đồng USD. Trong khi đó 49% các doanh nghiệp còn lại khẳng định rằng chắc chắn họ sẽ giảm số lượng nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc, Bangladesh, Campuchia và thay thế bằng các thị trường mới ở Đông Nam Á vào năm 2016.

    Tuy vậy, một cuộc nghiên cứu của một chuyên gia Pháp cho rằng, Trung Quốc vẫn nắm giữ được vị thế là một quốc gia xuất khẩu Dệt may lớn nhất vào thị trường Châu Âu năm nay. Theo số liệu báo cáo cho hay kim ngạch ước tính 24 tỷ euro trong 10 tháng (từ tháng 1-10) của năm 2015, vượt xa các nước tiếp theo là Bangladesh (hơn 9 tỷ euro), Thổ Nhĩ Kỳ (gần 8 tỷ euro), Ấn Độ và Campuchia. Đồng USD tăng giá không gây ra bất kỳ hiệu ứng nào đối với Mỹ, do đó đây là thị trường duy nhất mà nhập khẩu hàng dệt may từ Trung Quốc không giảm sút về số lượng.

    Như đã nói ở trên, ngoài yếu tố sự tăng giá của đồng USD, việc giá dầu thế giới giảm mạnh cũng tác động đến việc làm thay đổi cục diện của ngành xuất khẩu dệt may của thế giới. Giá dầu thế giới giảm làm cho giá các sợi tổng hợp (hiện chiếm hơn 60% tiêu thụ vải sợi trên toàn cầu) trở nên hấp dẫn hơn. Nhờ hiệu ứng domino, giá dầu thấp đẩy nhu cầu sợi cotton xuống, kéo theo giá của sản phẩm này cũng giảm theo. Mặc dù giá dầu giảm chỉ ảnh hưởng đến dây chuyền cung ứng sản phẩm tuy nhiên nó lại tác động đến toàn bộ mặt hàng.

    Chi phí nhân công tăng cao là một trong những yếu tố dẫn đến việc các tập đoàn thế giới chuyển sang thị trường mới như Đông Nam Á. Trung Quốc là một nước có tốc độ phát triển kinh tế cực kì nhanh trong vòng 10 năm trở về đây, kéo theo đà phát triển kinh tế là mức sống tăng cao, chính vì vậy mức lương chi trả cho nhân công ở thị trường này tăng nhanh chóng, có thời kì mức lương tăng từ 3,5%-4%. Dự báo trước được tình hình này vì vậy các tập đoàn dệt may thế giới đang dần dần chuyển qua hợp tác với các nước Đông Nam Á như: Việt Nam, Myanmar, Lào,… nơi mà có nguồn lao động dồi dào, phát triển và chi phí nhân công lại thấp. Bị hấp dẫn bởi nguồn chi phí công nhân thấp nên giới công nghiệp Trung Quốc đang đầu tư và cho xây dựng nhiều nhà máy sản xuất hàng may mặc tại Campuchia.

    Cũng như vậy đứng trước một miếng mồi béo bở về khoản chi phí nhân công rẻ và nắm bắt được xu thế thị trường thế giới nên các tập đoàn Trung Quốc đã cho xây dựng khá nhiều nhà máy, doanh nghiệp tại các nước Châu Phi để tận dụng triệt để nguồn lực lao động lớn mạnh tại đây

    Ông Jean-Francois Limantour, Chủ tịch Hiệp hội lãnh đạo các doanh nghiệp dệt may vùng châu Âu-Địa Trung Hải (Cedith) tất yếu cho việc ngành xuất khẩu Dệt may thế giới đang chuyển dần từ Trung Quốc sang các nước Đông Nam Á, sắp tới đây thị trường xuất khẩu vào châu Âu sẽ xuất hiện “ba con rồng, có những hàm răng dài, háu ăn và sức sống rất mãnh liệt” là Việt Nam, Campuchia và Myanmar

    Mặc dù những năm trở lại đây nền kinh tế thế giới có nhiều biến động do chịu sự ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng số lượng hàng hóa ngành dệt may xuất khẩu cũng tăng qua các năm, đã tăng từ 222%-445%.Trong ba đến bốn năm nữa Việt Nam, Campuchia, Myanmar,…sẽ ký kết thêm nhiều hiệp ước và hiệp định thương mại quốc tế, chính nó sẽ tạo điều kiện thuận mở ra một con đường hội nhập cho toàn nền kinh tế của ba nước này nói chung.

    Việt Nam đã ý hiệp định thương mại với EU, theo đó trong vòng 10 năm tới chúng ta sẽ được tự do xuất khẩu sản phẩm ngành Dệt may vào thị trường EU mà không phải đóng thuế Hải quan. Ngoài ra chúng ta sẽ được tạo điều kiện hết sức để ký kết hợp đồng với các quốc gia Châu Âu, bên cạnh đó hàng năm số lượng lượng vải nhập khẩu vào Việt Nam không còn bị đánh thuế nữa.

    Trong khi đó, Campuchia và Myanmar còn nhận được nhiều ưu đãi hơn chúng ta, họ được miễn thuế cho bất kỳ loại hàng hóa hóa nào “ngoại trừ vũ khí”, do đó có thể xuất khẩu với thuế suất bằng không bất kể là hàng hóa đó được nhập từ quốc gia nào trên thế giới.

    Trong khi các nước Đông Nam Á đang được hưởng rất nhiều lợi ích từ các bản ký kết hiệp định thương mại thế giới, thì các nước Bắc Phi đang phải đối mặt với một số khó khăn nhất định từ nguồn hàng đầu ra, khi mà số lượng nhập khẩu hàng hóa của EU với các nước ở Bắc Phí giảm sút mạnh vào năm 2015. Bên cạnh đó lí do chính trị nên Tunisia và Maroc còn gặp phải những trở ngại về việc xuất hàng hóa đi, khu công nghiệp của Tunisia nằm cạnh biên giới với Syria bất ổn.

    Kieutruc

  • Biện pháp phòng vệ tạm thời trong ngành thép đã được thông qua

    Biện pháp phòng vệ tạm thời trong ngành thép đã được thông qua

    2

    Trước những khó khăn của các Công ty thép Việt Nam đang đứng trên bờ vực phá sản cùng với sức ép của các doanh nghiệp trong ngành, Bộ Công Thương đã đưa ra quyết định áp dụng biện pháp phòng vệ tạm thời đối với ngành phôi thép và thép dài nhập khẩu vào Việt Nam

    Theo thông tin từ các cơ quan chức năng cho biết vào ngày 7/3/2016, sau một quá trình điều tra và thu thập thông tin có liên quan cùng với khiến nghị của một số doanh nghiệp, Bộ Công Thương đã ban hành quyết định số 862/QĐ-BCT về việc áp dụng biện pháp phòng vệ tạm thời đối với ngành phôi thép và thép dài Việt Nam.

    Theo đó nội dung của biện pháp tự vệ tạm thời bao gồm những ý chính sau đây:

    Thứ nhất, biện pháp tự vệ tạm thời áp dụng thu mức thuế tương đối là 23,3% đối với phôi thép và 14,2% đối với thép dài.

    Thứ hai, thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời là 200 ngày kể từ ngày quyết định được ban hành từ chính phủ.

    Thứ ba, nếu các mặt hàng nhập khẩu vào Việt Nam có xuất xứ từ các nước kém phát triển và số lượng các sản phẩm nhập khẩu của họ không vượt quá 3% số lượng các sản phẩm bị điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời thì sẽ không phải áp dụng biện pháp phòng vệ tạm thời.

    Cùng đó trong thông báo gửi đi, Bộ Công Thương cho biết nếu biện pháp tự vệ tạm thời không sớm được áp dụng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và toàn ngành thép Việt Nam nói riêng, biểu hiện là các doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh trực tiếp với các mặt hàng thép giá rẻ của Trung Quốc. Nếu bây giờ không áp dụng biện pháp này thì sau này sẽ rất khó để khắc phục những hậu quả “tràn lan” của việc hàng giá rẻ nhập khẩu vào Việt Nam

    Hậu quả chúng ta có thể thấy được trước tình trạng thép giá rẻ Trung Quốc nhập khẩu vào Việt Nam là con số thị phần, lợi nhuận, công suất, nhân công, và sự gia tăng hàng tồn kho năm 2015 tăng cao so với năm 2014. Và theo dự đoán nếu chính phủ không có biện pháp ngăn chặn tình trạng này thì tình hình này sẽ tiếp tục tiếp diễn và có thể còn tăng cao hơn rất nhiều so với năm 2015.

    Đứng trước tình hình khó khăn này, các doanh nghiệp thép Việt Nam như: Công ty CP Thép Hòa Phát, Công ty TNHH MTV Thép Miền Nam, Công ty CP Gang thép Thái Nguyên, Công ty CP Thép Việt Ý đã chung tay gửi kiến nghị lên chính phủ để sớm có biện pháp giải quyết vấn đề. Chính vì vậy ngày 25/12/2015, Bộ Công Thương đã cho ban hành quyết định số 14296/QĐ-BCT về việc điều tra áp dụng biện pháp tự vệ đối với các mặt hàng phôi thép và thép dài Việt Nam.

    Để đưa ra quyết định cuối cùng về việc áp dụng biện pháp phòng vệ tự vệ, các cơ quan chức năng phải điều tra và nghiên cứu kĩ lưỡng các thông tin liên quan.

    Vào ngày 30/12/2015, cơ quan điều tra đã gửi Bản câu hỏi điều tra cho các bên liênquan, một bên là các doanh nghiệp đứng ra kiến nghị, một bên là các doanh nghiệp không đồng ý với việc áp dụng biện pháp tự vệ này. Thời hạn để các doanh nghiệp có thời quan tìm hiểu và trả lời bản câu hỏi điều tra mà cơ quan chức năng đã cung cấp là 30 ngày (tức là trước 17h ngày 29/1/2016)

    Sau khi có được thông tin ở bản câu hỏi điều tra từ các bên liên quan, cơ quan chức năng sẽ trực tiếp làm việc một lần nữa với các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa tương tự trong ngành thép và các mặt hàng cạnh tranh trực tiếp với ngành để đưa ra quyết định cưới cùng vào ngày 7/3/2016 vừa qua.

    Kieutruc

  • Ngành khai thác khoáng sản “trốn thuế”

    Ngành khai thác khoáng sản “trốn thuế”

    Việt Nam là một đất nước được thiên nhiên ưu ái cho một nguồn tài nguyên khoáng sản vô cùng phong phú, hàng năm số lượng khai thác khoáng sản đem lại một nguồn thu rất lớn cho nền kinh tế nước ta

    1

    Hiện nay ta đang sở hữu trên 5.000 điểm mỏ của hơn 60 loại khoáng sản,và hơn hàng nghìn các doanh nghiệp lớn nhỏ khai khoáng trong ngành. Với quy lớn như thế này của ngành, có những thời điểm ngành khoáng sản nước ta như một cơn sốt của nền kinh tế khi mà có hơn 4.200 giấy phép do địa phương cấp ra và hơn 500 giấy phép do Bộ TN&MT cấp.

    Cụ thể theo số liệu báo cáo, năm 2011 số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong ngành cũng tăng lên với một tốc độ cao, đạt 2.545 doanh nghiệp. Tuy nhiên cũng chính vì tốc độ tăng nhanh như vậy mà khả năng quản lí của chúng ta còn nhiều hạn chế nên sẽ dẫn đến tình trạng không thể quản lý hay quản lý kém các hoạt động. Điều này gây ra một hậu quả to lớn cho nền kinh tế nước ta là “thất thu ngân sách”

    Bên cạnh đó khoáng sản là một nguồn tài nguyên hữu hạn, với tốc độ gia tăng các doanh nghiệp khai khoáng như hiện nay cùng với việc yếu kém trong khâu quản lý thì chắc chắn đến một lúc nào đó chúng ta sẽ cạn kiệt nguồn tài nguyên khoáng sản. Đây chính là thách thức mà chúng ta phải đối mặt và có cách giải quyết thỏa đáng

    Theo số liệu của Bộ TN&MT cho thấy vào năm 2013 Việt Nam đã khai thác 42,6 triệu tấn quặng sắt, 3 triệu tấn Appatile, 193.000 tấn Mangan và nhiều loại khoáng sản khác với số lượng vô cùng lớn.

    Tuy nhiên vấn đề chúng ta phải lưu tâm là việc số lượng khoáng sản của các doanh nghiệp khai thác hàng năm là rất lớn, tuy nhiên ngân sách thu được từ ngành khoáng sản lại rất thấp. Theo số liệu báo cáo thì năm 2010 doanh thu từ ngành khai thác khoáng sản là 331.000 tỷ đồng, nhưng ngân sách nước ta chỉ thu được 35.700 tỷ đổng. Phải chăng ở đây có sự bất cập nào đó về khâu quản lí trong việc đóng thuế cho ngân sách nhà nước

    Dẫn chứng thêm về vấn đề này, ông Nguyễn Quang Tú, chuyên gia Tổ chức Oxfam, giai đoạn năm 2011-2013 các ngành khai thác khoáng sản Việt Nam chỉ đóng góp cho ngân sách nhà nước từ 0,9-1,1% tổng doanh thu thực của ngành. Cùng với đó là vấn nạn khai thác trái phép khoáng sản, sự yếu kém trong khâu quản lí nên ngành khai khoáng được xem như là một trong những ngành đem lại rủi ro cao trong việc thất thu ngân sách nhà nước.

    Ts Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế báo cáo rằng theo số liệu tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc là khoảng 15 tỷ USD, trong khi đó con số của Trung Quốc báo về là 20 tỷ USD. Vậy độ chênh lệch của 5 tỷ USD đi đâu?. Số liệu báo cáo của các mặt hàng khác đều khá là đầy đủ và chi tiết, như vậy có thể khẳng định một lần nữa ngành khai thác khoáng sản Việt Nam có sự thất thu ngân sách.

    Lý giải cho vấn đề yếu kém trong khâu quản lí các chuyên gia cho rằng một phần do hệ thống quản lí của ta hiện nay quá bất cập khi mà có nhiều cơ quan chồng chéo lên nhau.  Hiện tại chịu trách nhiệm chính trong việc quản lí ngành khai thác khoáng sản có 3 cơ quan chính phủ cùng tham gia quản lý tài nguyên khoáng sản: Bộ TN&MT, Bộ Xây dựng và Bộ Công Thương. Bên dưới Bộ công Thương lại là những tập đoàn, tổng công ty phụ trách việc khai thác , sản xuất và tiêu thụ khoáng sản như Tập đoàn Than và Khoáng sản, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, tổng Công ty xi măng,…với những lợi ích từng bên khác nhau. Các tổ chức này sẽ làm việc để đem lại lợi ích chính cho mình và không quan tâm đến mục đích chung, vì thế khi có vấn đề thì sẽ đùng đẩy trách nhiệm cho nhau, cơ quan chức năng khó tìm ra chỗ sai. Nếu vấn đề này không được giải quyết sớm tin chắc rằng con số thất thu của ngân sách nhà nước sẽ càng ngày càng tăng.

    Theo ông Nguyễn Quang Tú, năm 2012 Bộ TN&MT kiểm tra 957 giấy phép khai thác khoáng sản của cac doanh nghiệp địa phương và thấy gần như 50% trong số đó là những giấy phép không hợp lệ. Trong số đó có rất nhiều những giấy phép có số lượng khai thác vượt quá quy mô của doanh nghiệp. Việc quản lí cấp giấy phép quá lỏng lẻo, nó đi theo cơ chế xin-cho, chỉ cần doanh nghiệp nộp đơn xin là cơ quan chức năng đồng ý.

    Cũng theo Gs. Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT, cơ chế xin-cho còn diễn ra ở nhiều hình thức khác nhau vì những lợi ích của cá nhân, ảnh hưởng từ các mối quan hệ quen biết với nhau, rủi ro tham nhũng của việc này là rất lớn.

    Ngoài cơ chế xin-cho, cơ chế giám sát thực thi pháp luật ở nước ta còn nhiều bất cập. Các doanh nghiệp được cấp phép khai thác một số lượng khoáng sản nào đó thì luôn luôn khai thức vượt mức con số được phép. Ở một số địa phương những doanh nghiệp không có giấy phép thì ngang nhiên khai thác, khai thác cả những khoáng sản bị cấm,…dẫn đến việc ngân sách thất thu và cạn kiệt tài nguyên.

    Việc nợ đọng thuế cũng gây ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước. Gần đây là trường hợp của hai công ty khai thác vàng Phước Sơn và Bồng Miêu nợ ngân sách nhà nước hơn 55 tỷ đồng, công ty TNHH Vàng Phước Sơn nợ hơn 260 tỷ đồng trong khi đó số liệu báo cáo về hai doanh nghiệp này đã khai thác được hơn 700 tỷ đồng. Như vậy có thể thấy được họ đang cố tình muốn trốn thuế.

    Cũng theo bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội tư vấn thuế Việt Nam, nếu cứ để tình hình tự thân vận động như hiện nay khi mà nhà nước ta cho các doanh nghiệp tự kê cai doanh thu và đóng thuế, không có sự quản lí chặt chẽ của cơ quan chuyên trách thì việc thất thu này sẽ không bao giờ chấm dứt.

    Theo các chuyên gia, Việt Nam cần ngăn chặn ngay những hành động làm thất thu ngân sách nhà nước. Không chỉ Việt Nam mà trên thế giới hiện nay cũng có rất nhiều nước đang gặp phải vấn đề này. Cho nên cũng có rất nhiều sáng kiến được đưa ra để giảm bớt vấn nạn,và một trong những phương pháp tốt nhất mà nhiều nước trên thế giới áp dụng là phương pháp EITI.

    Một trong những nước đã áp dựng thành công sáng kiến này là Nigieria, nước này đã lấy lại được hơn 1 tỷ USD mỗi năm sau khi áp dụng nó. Tính tới thời điểm này thế giới có trên 49 quốc gia đã thực thi EITI, trong đó có nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ từ châu Âu, châu Mỹ,..

    Việt Nam cũng là một trong những quốc gia sớm tiếp cận với sáng kiến này, tuy nhiên gần 10 năm sau với lí do nào đó thì nó vẫn chưa được áp dụng.

    Kieutruc

  • Chính sách ưu đãi dành cho các dòng xe công tại Việt Nam

    Chính sách ưu đãi dành cho các dòng xe công tại Việt Nam

    Cuối năm 2015 chính phủ ban hành một số điều khoản và chính sách để phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, và một trong những chính sách đó là ưu đãi, giảm thuế cho các dòng xe ưu tiên có dung tích xi lanh 1500cc trở xuống, trong khi đó lại áp dụng mức thuế trần cho các dòng xe có dung tích xi lanh cao. Như vậy những chính sách này đã góp phần mở cửa cho thị trường ngành công nghiệp ô tô trong thời gian tới.

    1

    Với cam kết mở của hội nhập trong vòng 10 năm tới chính phủ đã ban hành những cơ chế, chính sách thực hiện chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn chiến lược đến năm 2035 và quy hoạch phát triển ngành đến năm 2020. Với tất cả các chính sách này tin rằng trong 10 năm tới Việt Nam sẽ không còn đường lùi mà phải mở toang cửa để hội nhập kinh tế với các nước trên thế giới

    Chính sách sẽ tạo điều kiện phát triển các dòng xe ưu tiên tại Việt Nam như các dòng xe công phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp, nông thôn có sức chở trên 3 tấn, xe chuyên dùng, xe khách tầm chung và tầm ngắn chạy liên tỉnh, xe cá nhân chở người đến 9 chỗ ngồi, kích thước nhỏ, dung tích xilanh từ 1.500cc trở xuống, tiết kiệm nhiên liệu, giá cả phù hợp với người tiêu dùng. Những dòng xe trong diện ưu tiên sẽ nhận được nhiều ưu đãi về thuế trong quá trình sản xuất cũng như thương mại. Ngược lại sẽ đánh thuế cao các dòng xe có dung tích xi lanh trên 3.000cc và phải chịu một số khoản thuế khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, phí môi trường,…

    Theo đó chính sách này cũng ưu tiên về nguồn vốn vay tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp, cơ quan, các nhân tham gia đầu tư sản xuất, mua và sử dụng các dòng xe ưu tiên. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các loại phụ tùng, linh kiện, lắp ráp ô tô cũng được vay ưu đãi. Ngoài ra các doanh nghiệp đầu tư sản xuất có qui mô 50.000 xe/năm và các dự án sản xuất linh kiện, phụ tùng, hộp số, cụm truyền động sẽ được áp dụng các khoản thuế ưu đãi theo quy định của chính phủ. Bên cạnh đó các doanh nghiệp này cũng được hưởng các ưu đãi về đất đai, thuê mặt bằng dành cho các phân xưởng sản xuất.

    Cùng với mục tiêu phát triển thị trường, kích cầu trong nước, các chính sách được ưa đãi cần của chính phủ cần dành cho đúng người và đứng việc. Chính vì vậy, các quy định nêu rõ, các chính sách ưu đãi này chỉ dành cho các doanh nghiệp trong nước sản xuất các mặt hàng xe công.

    Quy định nêu rõ, đối với các hoạt động mua sắm sử dụng vốn ưu đãi của ngân sách Nhà nước, các dự án kinh doanh được nhà nước áp dụng mức thuế ưu đãi, các doanh nghiệp này khi sử dụng các dòng xe ưu tiên phải áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi trong nước với các dòng xe trong nước sản xuất được. Trong trường hợp các doanh nghiệp này áp dụng hình thức đấu thầu quốc tế hoặc nhập khẩu nguyên chiếc thì đương nhiên sẽ không được hỗ trợ các khoản vay ưu đãi từ ngân sách nhà nước.

    Ông Phạm Anh Tuấn – Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng (Bộ Công Thương) – chia sẻ: những chính sách ưu đãi này là một trong những điểm sáng của cơ chế này so với các quyết định 1168 trước đây. Trên thực tế nếu chính phủ có ưu đãi mức thuế như thế nào đi nữa, nếu doanh nghiệp vẫn không có khách hàng, có thị trường và vẫn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam thì nó cũng sẽ không hiệu quả. Hiện nay nhiều doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô trong nước như Trường Hải ô tô đã làm chủ được công nghệ lắp ráp xe tải nhỏ, xe buýt, xe đa dụng. Tuy nhiên bên cạnh đó thời gian qua có nhiều doanh nghiệp vẫn nhập khẩu xe nguyên chiếc, hay phụ tùng linh kiện giá rẻ của Trung Quốc, gây bức xúc trong dư luận khi sử dụng không đúng nguồn vay ưu đãi của nhà nước. Cũng chính với cơ chế mới này sẽ có thể ngăn chặn được vấn đề trên, tạo điều kiện để các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh, sử dụng hiểu quả ngân sách nhà nước.

    Nhận định về vấn đề này, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng đây cũng chính là điểm sàng, vì từ bao lâu nay các doanh nghiệp trong nước tiêu tiền từ ngân sách của nước mình mà không quan tâm đến đây là tiền từ đâu? từ mồ hôi của bao người dân Việt Nam. Họ đóng thuế cho nhà nước cũng mong muốn góp phần phát triển kinh tế nước nhà hơn, thế mà các doanh nghiệp nước ta lại sử dụng số tiền này để phát triển kinh tế cho các nước khác.

    Nếu các doanh nghiệp biết rằng dùng tiền ngân sách mua  các sản phẩm trong nước sẽ kích thích được thị trường, tạo công ăn việc làm cho nhân công, giúp các doanh nghiệp có nhiều khách hàng hơn nữa. Chuyên gia này cũng cho hay nếu chính sách này được áp dụng sớm hơn thì có lẽ nền kinh tế nước ta có thể đã phát triển hơn trước, khi mà năm ngoái số lượng xe công nhập khẩu là hơn 40.000 chiếc. Chỉ cần một nửa số lượng xe công nhập khẩu này là xe trong nước thì nó đỡ phần nào

    Đánh giá về những điều chỉnh trong chiến lược phát triển ngành CN ôtô Việt Nam, bà Phạm Chi Lan cho rằng những điều chỉnh này được đưa ra “quá muộn nhưng muộn còn hơn không” vì từ giờ đến năm 2018 – thời điểm phải mở cửa hoàn toàn – là thời gian hết sức gay gắt, mang tính quyết định đến sự tồn tại của ngành ôtô trong nước. Tuy nhiên, chuyên gia này cho rằng cần xem xét về cách thức phát triển các ngành công nghiệp phụ kiện để tránh lặp lại câu chuyện của ngành dệt may.”Đúng là mở ra cho DN trong nước nhưng theo kiểu đánh đồng đầu tư nước ngoài với DN trong nước thì lại dẫn tới hệ quả người ta tháo dỡ các nhà máy phụ kiện của họ ở nước ngoài và mang sang Việt Nam để hưởng ưu đãi của nhà nước Việt Nam”.

    Kieutruc

     

     

     

     

     

  • Việt Nam thay thế Trung Quốc trở thành trung tâm Công nghiệp thế giới là một điều rất khó

    Việt Nam thay thế Trung Quốc trở thành trung tâm Công nghiệp thế giới là một điều rất khó

    “Khi Hiệp định TPP được ký kết các ngành hàng như Dệt may, Da giày sẽ là những ngành hàng được hưởng lợi trực tiếp từ bản ký kết này, ngoài ra nó còn tạo điều kiện cho Việt Nam trở thành một trung tâm Công nghiệp” một chuyên gia kinh tế hàng đầu nhận định

    Theo đó ông này cũng cho biết thêm, khi TPP được ký kết nó sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho toàn ngành kinh tế nói chung và ngành Công nghiệp nói riêng, chính quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ giúp cho Việt Nam có thể trở thành trung tâm Công nghiệp của thế giới và các ngành điển hình về mảng sản xuất và giá trị toàn cầu hóa như ngành Dệt may, Da giày,… sẽ được hưởng lợi nhiều nhất. Chuyên gia này cũng cho rằng khi Việt Nam có một sự cải cách như hiệp định cùng với những động lực để thúc đẩy nền kinh tế phát triển thì điều này hoàn toàn có khả năng.

    1

    Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng tại Lễ ký kết để xác thực lời văn Hiệp định TPP.

    Tuy nhiên nhiều ý kiến lại cho rằng Việt Nam thay thế Trung Quốc trở thành trung tâm Công nghiệp của thế giới là một điều cực kì khó có thể xảy ra vì hiện nay việc tận dụng hiệu quả những lợi ích của Hiệp định TPP đã là một bài toán rất khó cho nền kinh tế nước ta.

    Nói với BizLIVE, ông Bùi Ngọc Sơn, Trưởng phòng Kinh tế quốc tế, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính trị thế giới nhận định: những gì Việt Nam đang có rất khó để “hấp thụ” những cơ hội mà TPP mang lại.

    Ông Sơn cũng cho rằng với trình độ công nghệ của nước ta hiện nay, tay nghề của công nhân còn non yếu cùng với thể chế chính sách, thủ tục hành chính nề hà. Nhiều doanh nghiệp còn lơ mơ chưa hiểu và cũng không chịu tìm hiểu TPP là cái gì? thì ngoài khâu đàm phán là chuẩn bị tốt nhất, còn lại chẳng chuẩn bị gì thì làm sao ta có thể “chui” vào được chuỗi giá trị toàn cầu, làm sao hiểu và tận dụng tối đa những lợi ích mà TPP mang lại chứ nói gì đến việc thay thế Trung Quốc trở thành trung tâm công nghiệp của thế giới.

    Ông Sơn nhấn mạnh, cơ hội mà các hiệp định mang lại cho nền kinh tế mỗi nước là rất lớn, bên cạnh đó nó cũng đi kèm với vô vàn những khó khăn, nếu chúng ta biết tận dụng và sử dụng hiệu quả nó thì đây chính xác là một kho báu

    Tuy nhiên nhìn thực tại “sức” non yếu của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, cùng với việc chuyển giao công nghệ còn bất cập thì Hiệp định TPP chính là một thách thức lớn

    Ông Sơn cũng đề cập tới vấn đề chuyển giao công nghệ, nếu chúng ta không siết chặt họ về vấn đề chuyển giao công nghệ thì họ chẳng có gì ràng buộc với chúng ta, nếu họ thích thì có thể giúp nếu không thì thôi. Nếu tỉnh này không ưu tiên họ thì họ lại sang các tỉnh khác với nhiều ưu đãi hơn. Thử hỏi như vậy thì đến bao giờ nền kinh tế nước ta mới lớn mạnh được?

    Cũng vấn đề này, Trung Quốc thì họ lại khác, nếu nhà đầu tư không chịu chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp thì họ sẽ áp dụng mức thuế cao hơn. Và ngay bản thân các doanh nghiệp Trung Quốc họ cũng chủ động trong việc đưa ra những điều khoản yếu cầu chuyển giao công nghệ trước.

    Nhìn thực tại vào những điều đó thì việc Việt Nam trở thành trung tâm công nghiệp của thế giới là cực kì khó

    Trong khi đó, theo ông Ngô Quý Nhâm, Giám đốc Dịch vụ Tư vấn Chiến lược của Công ty Tư vấn Quản lý OCD, Việt Nam có thể thay thế Trung Quốc để trở thành trung tâm công nghiệp của thế giới thực sự là điều huyễn hoặc.

    Ông Nhâm nói: “Một nền kinh tế mà hơn 98% các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn tích lũy thấp, hệ thống quản trị còn thấp kém, máy móc, thiết bị, trình độ công nghệ, tay nghề nhân công còn thấp, năng lực marketing – đặc biệt là marketing quốc tế hạn chế như hiện nay thì rất ít doanh nghiệp của chúng ta có thể tận dụng được những lợi ích mà Hiệp định TPP mang lại

    “Chưa kể việc chính sách thuế hà khắt đè nặng lên các doanh nghiệp nội địa, trong khi đó lại áp dụng rất nhiều mức thuế ưu đãi dành cho các doanh nghiệp nước ngoài. Sống sót và cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài đã khó nói gì đến việc tận dụng lợi thế của Hiệp định TPP” ông Nhâm cho biết thêm.

    Kieutruc

     

  • Các công ty Thép Việt Nam đang đứng trước nguy cơ phá sản

    Các công ty Thép Việt Nam đang đứng trước nguy cơ phá sản

    Đầu năm 2016 khối lượng thép nhập khẩu vào Việt Nam đã trên 300 ngàn tấn, với đà nhập khẩu như vậy thì không lâu sau thì trường thép Việt Nam chỉ toàn là thép nhập khẩu, các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành sẽ gặp nhiều khó khắn, có thể dẫn đến việc đóng cửa.

    2

    Trong văn bản gửi thủ tướng chính phủ, tổng công ty thép Việt Nam (Vnsteel) đã đưa ra bảng thống kê số lượng phôi thép nhập khẩu vào Việt Nam từ đầu tháng 1 đến nay tăng hơn 300% so với cùng kỳ năm 2014. Đồng thời trong văn bản cũng dự báo về tình trạng khẩn cấp của việc phôi thép giá rẻ sẽ được nhập khẩu vào Việt Nam năm 2016.

    Số liệu cụ thể cho thấy rằng lượng phôi thép nhập khẩu tháng 1/2016 là gần 350 ngàn tấn, trong khi đó lượng thép nhập khẩu tháng 10/2015 chỉ mới có 150 ngàn tấn. Điều này dự báo về một tốc độ gia tăng quá cao của mặt hàng này.

    Trong khi đó giá nhập khẩu phôi thép liên tục giảm từ 312 USD/tấn ( tháng 10/2015) xuống 269 USD/tấn (tháng 1/2016). Điều này cũng lý giải cho việc vì sao số lượng nhập khẩu thép vào Việt Nam lại tăng cao như vậy. Đây sẽ là một yếu tố lớn gây khó khăn và thách thức cho các doanh nghiệp nội địa kinh doanh trong ngành

    Đứng trước tình hình này, công ty Cổ Phần Thép Hoà Phát đã gửi công văn lên thủ tướng chính phủ để khiến nghị, theo đó doanh nghiệp cho rằng với tốc độ gia tăng khối lượng nhập khẩu thép hiện nay thì chắc chắn các doanh nghiệp thép nội địa sẽ gặp nhiều khó khăn, có nguy cơ quay lại thời kỳ khó khăn của ngành 10 năm trước.

    Đứng trước mối lo ngại này, không chỉ riêng các doanh nghiệp mà Tổng công ty thép Việt Nam (VSA) cũng gửi văn bản lên thủ tướng chính phủ về vấn đề này

    Cụ thể trong văn bản công ty nêu rõ, tốc độ nhập khẩu phôi thép tăng nhanh cùng với việc giá của sản phẩm giảm mạnh, nếu chính phủ không có biện pháp ngăn chặn kịp thời thì số lượng nhập khẩu phôi thép vào Việt Nam sẽ tăng từ 4-5 triệu tấn vào năm 2016

    “Với lượng nhập khẩu này, các nhà sản xuất phôi thép của Việt Nam sẽ không chỉ tạm dừng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng như đã xảy ra trong năm 2015, mà thậm chí phải đóng cửa”, văn bản từ (VSA) nêu rõ

    Để giải quyết tình hình này, trong thời gian qua Hoà Phát và 3 công ty thép Công ty TNHH MTV Thép Miền Nam, CTCP Gang thép Thái Nguyên (2 đơn vị thành viên của Vnsteel) và CTCP Thép Việt Ý (chiếm 38,6% tổng sản lượng phôi thép sản xuất trong nước) đã yêu cầu chính phủ áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với mặt hàng phôi thép.

    Đáp ứng yêu cầu ngày 25/12/2015 vừa qua, Bộ Công Thương đã ra quyết định 14296/QĐ-BCT điều tra áp dụng biện pháp tự vệ với mặt hàng phôi thép và thép dài nhập khẩu vào Việt Nam

    Tuy nhiên sau hai tuần đưa ra quyết định điều tra áp dụng biện pháp tự vệ, hàng loạt các công ty trong ngành như CTCP thép Pomina, Công ty liên doanh sản xuất thép Vinausteel, Công ty TNHH Nasteel-Vina, Công ty sản xuất Thép Úc SSE, Công ty TNHH Thép Vinakyoei, CTCP thép Việt Đức, CTCP BCH đã đồng loạt yêu cầu ngưng hoạt động điều tra, không nên áp dụng biện pháp tự vệ thương mại đối với mặt hàng phôi thép trong ngành thép.

    Cũng trong văn bản trình thủ tướng chính phủ, Vnsteel cho biết, mặc dù Bộ Công Thương gửi văn bản yếu cầu các cơ quan chức năng vào cuộc điều tra thông tin liên quan để áp dụng biện pháp phòng vệ nhưng số lượng phôi thép nhập khẩu vào Việt Nam không có dấu hiệu giảm sút mà ngược lại con số này lại càng tăng cao

    Theo ông Nghiêm Xuân Đa Tổng giám đốc của Vnsteel nêu rõ “Nếu tốc độ nhập khẩu phôi thép tiếp tục duy trì thì các đơn vị sản xuất phôi thép trong nước sẽ đối mặt với nguy cơ phải dừng sản xuất và phá sản đồng thời kéo theo nhiều hệ lụỵ khác cho nền kinh tế nước nhà.

    Kieutruc

  • Việt Nam phát triển hơn Campuchia về ngành dệt may

    Việt Nam phát triển hơn Campuchia về ngành dệt may

    Theo một số thông tin trên thị trường cho rằng kim ngạch xuất ngành dệt may của Việt Nam vào thị trường EU năm 2015 thua kém so với kim ngạch xuất khẩu của Campuchia. Cụ thể là Campuchia đã vươn lên đứng vị trí top 5 trong nhóm thị trường xuất khẩu dệt may của EU.

    Tuy nhiên Hiệp Hội Dệt may Việt Nam(Vitas) cho rằng thông tin đó là không chính xác

    Cụ thể theo Hiệp Hội những thông tin, số liệu được báo cáo trước đó về giá trị kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam vào EU là chính xác. Tuy nhiên theo như tiêu đề của bảng báo cáo ghi rõ là thống kê hàng may mặc (HS61 + HS62), trong khi đó thông tin lại có sự nhầm lẫn thành ngành dệt may (bao gồm tổng từ HS 50 – 63).3

    Cũng như vậy Vitas cho biết, năm 2014 ngành dệt may (HS 50-63) Việt Nam xuất khẩu khoảng 2,53 tỷ Euro  vào thị trường các nước EU, tăng trưởng 21,31%, còn năm 2015 là 3,13 tỷ Euro, tăng trưởng 23,9% so với năm 2014. Trong khi đó theo số liệu thống kê thì năm 2015 tổng ngành dệt may (HS 50-63) của Campuchia vào thị trường EU là 2,97 tỷ Euro, tăng trưởng 31,64%.

    Như vậy ta có thể thấy rằng tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam vào thị trường các nước EU vẫn cao hơn Campuchia. Trong khi đó hiện nay Campuchia vẫn đang còn được hưởng mức thuế ưu đãi 0% theo chương trình Everything But Arms (EBA)-GSP của EU dành cho các nước kém phát triển. Trái lại thì Việt Nam đang chịu mức thuế là 9,6% dành cho nước đang phát triển.

    Tuy nhiên chúng ta cũng phải nhìn nhận một vấn đề là tốc độ tăng trưởng ngành dệt may của Campuchia vào các nước EU là rất cao, mặc dù Campuchia gặp những khó khăn nhất định nhưng kim ngạch xuất khẩu năm 2015 tăng 31,64% so với năm 2014. Và Việt Nam chúng ta cũng đã có những bước phát triển so với thời kỳ các năm 2012-2013

    Tại hội nghị cũng nhận định cho rằng nếu xét về tiềm lực, cơ hội cũng như việc Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU sẽ được kí kết, phê chuẩn, có hiệu lực thì giá trị xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam chắc chắn sẽ nổi trội hơn Campuchia. Hơn thế nữa Việt Nam sẽ hướng đến cạnh tranh với các đối thủ lớn như Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesh và Trung Quốc. Như vậy, Việt Nam khẳng định không thua kém Campuchia trong lĩnh vực xuất khẩu dệt may sang các nước EU.

    Nếu ngành dệt may Việt Nam nổi trội hơn Campuchia thì ngược lại ngành xuất khẩu gạo của nước ta có dấu hiệu thua kém các nước bạn. Theo tổng cục hải quan, năm 2015 Việt Nam xuất khẩu 6,586 triêu tấn gạo với kim ngạch 2,803 tỷ USD, tăng về số lượng nhưng lại giảm về giá trị.

    Theo dự báo của VFA, xuất khẩu gạo Việt Nam năm 2016 sẽ gặp những khó khăn nhất định từ môi trường, thiên tai, hạn hạn xảy ra trên cực rộng, nạn xâm nhập mặn đang xảy ra ở đồng bằng Sông Cửu Long cùng với sự cạnh tranh gây gắt từ những nước phát triển về xuất khẩu gạo trên toàn thế giới như Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan hay các nước đang có tiềm năng về mặt hàng này như Campuchia, Myanmar.

    Hiện nay một trong những thị trường xuất khẩu gạo lớn mạnh của Việt Nam là Trung Quốc. Theo ông Bùi Huy Hoàng, tham tán thương mại thương vụ của Việt Nam tại Trung Quốc báo cáo, hiện nay Việt Nam chiếm hơn 54% thị trường nhập khẩu gạo tại Trung Quốc. Tuy nhiên Việt Nam đang đối mặt với khó khăn là phải cạnh tranh với “hiện tượng” Campuchia.

    Theo số liệu từ văn phòng Thư Ký dịch vụ, Campuchia chỉ mới bước chân xâm nhập vào thị trường, gạo của Trung Quốc và đã gặt hái được những thành công nhất định, trong 7 tháng đầu năm 2015 Campuchia xuất khẩu 312.300 tấn gạo sang Trung Quốc, tuy con số này chỉ bằng 1/10 khối lượng của Việt Nam nhưng nó cũng cho thấy tốc độ tăng trưởng lớn mạnh (tăng 53%) so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi đó tốc độ tăng trưởng của Việt Nam lại có dấu hiện giảm sút

    Hơn thế nữa, xét trên cả quá trình Việt Nam đã tham gia vào thị trường xuất khẩu gạo được hơn 20 năm, trong khi đó Campuchia chỉ mới bước chân vào thị trường này khoảng được 5 năm. Thế nhưng hiện nay mặt hàng gạo của Campuchia đã có mặt trên 53 quốc gia và vùng lãnh thổ, len lỏi được vào cả những thị trường khó tính như Mỹ và EU. Thị trường gạo của EU chiếm hơn 60% khối lượng xuất khẩu gạo của Campuchia.

    Trong khi đó Việt Nam chúng ta sau 20 năm vẫn còn quanh quẩn ở các nước trong thị trường Châu Á và Châu Phí có thu nhập thập.

    Đây cũng là vấn đề cần phải được đặt ra những cuộc họp để sớm được giải quyết và sớm có những biện pháp cũng như cải cách giúp ngành gạo Việt Nam nói riêng và toàn ngành kinh tế nước ta nói chung.

    Kieutruc

  • Những thay đổi trong chính sách để phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam

    Những thay đổi trong chính sách để phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam

    Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa ban hành những chính sách cũng như cơ cấu nhằm phát triển ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam như chính sách giảm thuế cho các dòng xe ô tô gia đình, ưu đãi về thuế, đất đai cũng như các khoản vay tín dụng nhằm phát triển hoạt động kinh doanh cho ngành công nghiệp ô tô

    1

    Các chính sách này ban hành nhằmphát triển mục tiêu kinh tế dài hạn của ngành trong vòng 10 năm tới (2025) cùng với tầm nhìn sẽ đưa ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam ngang tầm với các nước trong khu vực Châu Á vào năm 2035. Để đáp ứng các mục tiêu đó chính phủ ta đã cho ban hành các chính sách như sau:

    Ưu đãi về thuế, đất đai

    Điểm nổi bật trong Quyết định 229/QĐ-TTg ký vào ngày 4-2-2016 là ưu đãi về thuế và đất đai áp dụng cho các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành

    Đối với các doanh nghiệp trong nước sản xuất các loại linh kiện, động cơ phụ tùng, hộp số đáp ứng chất lượng sử dụng sẽ được hưởng lợi về thuế, cụ thể nó sẽ được áp dụng mức thuế sàn trong ngành.

    Những loại hàng hóa được nhập khẩu để tạo ra các loại tài sản cố định cho các dự án sản xuất linh kiện, phụ tùng cho xe ô tô, các dự án nhà máy tại các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao được hưởng các loại thuế ưu đãi theo quy định của pháp luật ban hành

    Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, các doanh nghiệp có qui mô và nhu cầu phát triển để sản xuất số lượng lớn các sản phẩm trên 50.000 xe/năm sẽ được chính phủ xem xét và có những chính sách miễn trừ thuế thu nhập và có các chính sách ưu tiên khác

    Các dự án đầu tư cho các nhà máy sản xuất linh kiện và phụ tùng được ưu đãi về các khoản thuế về đất đai theo quy định về pháp luật công nghiệp hỗ trợ. Các dự án có quy mô đầu tư lớn về các dòng xe ưu tiên và các bộ phận động cơ, hộp số sẽ được nhà nước xem xét ưu đãi hoặc miễn giảm thuế thuê đất đối với từng trường hợp cụ thể

    Riêng đối với thuế thu nhập đặc biệt (TNĐB) sẽ nghiên cứu và điều chỉnh mức thuế TNĐB đối với các dòng xe 9 chỗ trở xuống theo hướng phân chia từng dòng nhỏ hơn có các khoản thu khác nhau. Ngoài ra đối với dòng xe ưu tiên tiêu dùng có dung tích xi lanh nhỏ sẽ được giảm thuế để khuyến khích sử dụng, trái lại các dòng xe có dung tích xi lanh cao sẽ bị áp mức thuế cao hơn

    Hỗ trợ tín dụng, kích cầu, phát triển thị trường

    Một điểm đáng chú ý trong quyết định 229/QĐ-TTg ký vào ngày 4-2-2016 là các doanh nghiệp trong nước đầu tư sản xuất dây chuyền máy móc trang thiết bị động cơ và linh kiện lắp ráp ô tô sẽ được nhận ưu đãi hỗ trợ vay các khoản vay tín dụng của nhà nước từ ngân hàng phát triển Việt Nam

    Các doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu trong sản xuất, xuất khẩu linh kiện, phụ tùng và xe nguyên chiếc sẽ được hưởng chính sách tín dụng xuất khẩu. Và doanh nghiệp sản xuất các dòng xe ưu tiên được hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại theo quy định của Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia.

    Chính sách ưu đãi các khoản vay cũng được áp dụng cho các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, các nhân mua xe tải nhỏ phục vụ cho các hoạt động nông nghiệp, các loại xe công nông đa dân dụng phục vụ cho hoạt động sản xuất, chăn nuôi. Chính sách này nhằm kích cầu cho nhà đầu tưu sản xuất các dòng xe ưu tiên phát triển.

    Ngoài ra các doanh nghiệp cần chú ý khi doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn vay ưu đãi từ chính phủ khi muốn mua hay sử dụng các dòng xe ưu tiên phải thực hiện hoạt động đấu thầu rộng rãi trong nước đối với các chủng loại xe ưu tiên mà Việt Nam đã sản xuất được.

    Đối với hoạt động mua sắm sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển; các dự án kinh doanh được nhà nước hỗ trợ chi phí hoạt động khi có sử dụng sản phẩm thuộc dòng xe ưu tiên thì áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi trong nước đối với các chủng loại xe ưu tiên mà trong nước đã sản xuất được. Trong trường hợp doanh nghiệp áp dụng hình thức đấu thầu quốc tế thì các khoản chi phí sẽ không được nhà nước hỗ trợ ưu đãi bằng các khoản vay từ ngân sách nhà nước.

    Kieutruc