Category: Thị Trường Nông Sản

  • Kì lạ 6 tháng mùa mưa, ngư dân Sông Đốc vẫn làm khô cá ngon bắt mắt

    Kì lạ 6 tháng mùa mưa, ngư dân Sông Đốc vẫn làm khô cá ngon bắt mắt

    Làm khô cá vào mùa mưa nhưng người dân nơi đây hoàn toàn không dùng đến máy sấy, những khô cá đến với người tiêu dùng hoàn toàn tự nhiên, màu sắc bắt mắt, thơm ngon và đậm vị biển. Thoạt nghe tưởng chừng là chuyện lạ nhưng tại vùng biển Sông Đốc huyện Trấn Văn Thời, người dân vẫn tạo cho mình cách làm khô cá như vậy vào thời điểm tháng 6 mùa mưa.

    Máy đo độ mặn

    Máy đo độ mặn giá rẻ

    Bút đo độ mặn

    Gắn bó với nghề khô cá hơn 10 năm nay, ông Cẩm, chủ vựa cá tại Cẩm Vân (Thị trấn Sông Đốc) chia sẻ: Do vào mùa mưa hiếm nắng để phơi cá xẻ ngay nên ông chỉ làm khô cá mặn. Làm loại cá này không khó nhưng tốn nhiều công và mất nhiều thời gian, càng để lâu càng hao, bán không lời.

    Ông chia sẻ các công đoạn là khô cá: Sau khi thu mua cá ngoài ghe phải mang về làm ngay, rửa sạch và ngâm nước muối cho cá thấm đủ mặn (qua một đêm) thì mang đi rửa sạch, để ráo và xếp lên vỉ mang phơi nắng. Khi không có nắng, cá được bảo quản trong tủ đông hoặc thùng đá đến khi có nắng thì mang phơi. Cứ như vậy đến khi nào cá khô.

    Để đủ nguồn cung làm khô cá quanh năm, ông Cẩm thường liên kết với 100 chiếc ghe cào để lấy cá mỗi ngày. Khô cá ông mua gồm các loại cá đù, cá đổng, lưỡi trâu, mối, hô… Giá cá mua sô mỗi loại tại ghe từ 8.000đ – 12.000đ/kg tùy loại lớn, nhỏ.

    Ông còn cho biết thêm, chừng 2.5kg cá tươi mới cho ra 1kg khô cá. Tùy độ ngon, kích thước mà giá cá khô khác nhau. Ngoài việc bán cho các sạp hàng khô ngoài chợ và người dân, ông bỏ mối cho các khu chợ Bến Tre.

    Từng bươn trải khắp nơi với khắp nghề để nuôi 4 đứa con ăn học nếm đủ vất vả, chỉ khi bén nghề khô các mới giúp gia đình ông đổi đời.

    Bà Vân, vợ ông Cẩm chia sẻ: Hai vợ chồng ông quê ở Thái Bình, chuyển qua vùng Sông Đốc sinh sống năm 1993. Khi mới tới đây, gia đình ông nghèo, không có cửa nhà, chỉ cất chòi là tạm bợ che mưa, nắng cho mấy đứa nhỏ. Hai vợ chồng đi làm thuê đủ nghề rồi dành được ít tiền mua các vỏ lãi chạy đò dọc. Vì chạy ban đêm, sóng lớn, vỏ nhỏ nên cả hai vợ chồng phải chạy không dám để ông chạy một mình. Thấy cuộc sống khổ cực nên người cậu làm cơ sở sản xuất khô các cho hai vợ chồng về làm chung và truyền nghề cho từ đó.

    Giờ đây, với nghề này, ông không chỉ làm giàu cho gia đình mà cơ sở của ông còn giải quyết công ăn việc làm cho 20 lao động nhàn rỗi tại địa phương.

    Trao đổi với một người làm khô cá trong cơ sở sản xuất là bà Nguyễn Thị Dung chia sẻ: Bà làm ở cơ sở được hơn 10 năm, thời điểm cá nhiều, công việc làm từ 7 giờ sáng đến 4, 5 giờ chiều. Công làm cá được 1.000đ/kg, mỗi ngày bà làm được chừng 100.000đ. Nhờ công việc này mà bà có thêm thu nhập nuôi 4 đứa cháu đang tuổi ăn học và chồng bà nằm một chỗ 5 năm nay.

    Cách nhà ông Cẩm là hộ làm khô cá của anh Thanh. Ban đầu anh chỉ có ý định làm khô các phục vụ bà con chòm xóm nhưng thấy ngon nên mọi người giới thiệu nhiều người ủng hộ. Anh Thanh tâm sự, ban đầu hộ anh chỉ làm chừng 100kg mỗi tuần, sau này tìm thêm được nhiều mối lái ở vùng khác mua khô nên mỗi tuần bán khoảng 1-2 tấn. Từ khi chuyển nghề này, cuộc sống gia đình ổn định, dư giả hơn trước bởi thu nhập khá, không còn cảnh chật vật hụt trước, thiếu sau như trước.

    Ông Thành, trưởng khóm 4, thị trấn Sông Đốc chia sẻ với chúng tôi, trước đây cả xóm có 10 cơ sở sản xuất khô cá, hiện nay lượng cá giảm và khó khăn trong tìm đầu ra nên số hộ làm khô cá giảm chỉ còn 3 cơ sở. Những hộ bám trụ nay trở nên dư giả, khấm khá và càng ngày càng phát triển, mở rộng quy mô sản xuất. Những hộ này góp phần duy trì nghề truyền thống đã có hàng vài chục năm nay tại vùng cửa biển Sông Đốc vốn nổi tiếng với hải sản tươi sống và các loại khô cá.

  • Ngao “há miệng cười”, người dân khóc ròng vì lỗ nặng

    Ngao “há miệng cười”, người dân khóc ròng vì lỗ nặng

    Đã hơn 1 tuần qua, ngao bỗng nhiên “há miệng cười” tràn trề khiến những người nuôi ngao tại bãi bồi cửa sông Văn Úc, khu vực lận cận các huyện Kiến Thụy, Tiên Lãng và địa bàn Đồ Sơn (Hải Phòng) không ăn, không ngủ, đứng không yên, ngồi không yên. Nhiều gia đình rơi vào cảnh nợ nần chồng chất.

    Máy đo độ ẩm

    Máy đo độ ẩm không khí

    Với những thông tin chúng tôi tìm hiểu được, có hơn 500ha ngao trú ngụ ở khu vực cửa sông Văn Úc. Đã qua 1 tuần rồi, nơi các bãi nuôi ngao tại đây có tình trạng ngao nằm mở miệng phủ kín bãi thả.

    Cứ tưởng sẽ trang trải được cuộc sống nhờ mùa ngao này. Ai ngờ, ngao ra đi, để lại cho những người nuôi ngao ở đây một sự thất vọng với hai bàn tay trắng và phải vác trên mình những khoản nợ kếch xù mà chưa biết phương pháp nào để trả.

    Theo chia sẻ của anh Nguyễn Văn Thịnh (xã Đoàn Xá, huyện Kiến Thụy), gia đình anh chăm gần 50ha ngao. Không biết nguyên nhân nào khiến ngao lăn đùng ra chết dù chúng hiện đang phát triển rất tốt. Như tính toán, mức thiệt hại của gia đình lên đến gần 10 tỷ đồng.

    Anh Thịnh bần thần chia sẻ: “Sau khi phát hiện ra ngao chết, tôi và các hộ nuôi ngao trên địa bàn phải cố gắng gom số ngao còn xót lại đem vào bờ, bán để được đồng nào biết đồng đó. Đồng thời, chúng tôi cũng thuê người hút sạch ngao nằm la liệt trên bãi để cải tạo lại. Muốn nuôi ngao trở lại được thì phải mất một khoảng thời gian khá lâu nữa. Tôi cũng như những người dân nuôi ngao mong các cơ quan chức năng sớm tìm ra nguyên nhân khiến ngao ra đi hàng loạt như thế”.

    Cũng cùng hoàn cảnh với anh Thịnh, nhiều người nuôi ngao ở bãi bồi Văn Úc phải long đong, vất vả vì đối phó với khó khăn, hoạn nạn dồn dập. Chị Phạm Thị Duyên (xã Đại Hợp, huyện Kiến Thụy) cho hay: Sau khi thấy ngao đột nhiên chết đồng loạt, gia đình chị sốc nặng, như ngã xuống vực sâu.

    Chị Duyên buồn rầu chia sẻ: “Tôi đã phải vay vốn ngân hàng, bạn bè người thân, thậm chí còn phải đi vay nóng để có được bãi nuôi ngao này. Vậy mà bỗng rưng, ngao lăn đùng ra chết hàng loạt khiến gia đình tôi lâm vào cảnh điêu đứng”.

    Theo lãnh đạo địa phương cho hay, đây là lần đầu tiên có tình trạng ngao chết đồng loạt như vậy. Sau khi nhận được những phản ánh của đông đảo người dân, các cấp ngành đã nhanh chóng xuống bãi nuôi ngao để tìm hiểu nguyên nhân rồi báo sự việc lên cơ quan chức năng.

    Trò chuyện với ông Nguyễn Hữu Quân, trưởng phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Kiến Thụy cho hay: Sau khi nắm bắt được thông tin về vụ việc trên, chúng tôi đã báo lên cơ quan chức năng để xuống bãi ngao tìm hiểu. Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hải Phòng đã cử tất cả cán bộ kỹ thuật xuống dưới để kiểm tra thực tế tại cơ sở trên địa bàn.

    Như ông Quân cho biết, kết quả sơ bộ cho thấy diện tích nuôi ngao bị chết nằm trong lạch nước. Lúc thủy triều cạn vẫn tồn đọng khoảng 40 – 50cm nước, mật độ ngao từ 500 – 800 con/m2 (cỡ 80 – 150 con/kg), diện tích bị thiệt hại trên dưới ước chừng 100ha.

    Ông Quân giải thích: “Theo như báo cáo của Sở Nông nhiệp và phát triển nông thôn gửi về thì lí do ban đầu được xác định là ngao chết do mật độ nuôi quá dày (gấp 2, 3 lần với mật độ cơ quan chức năng khuyến cáo), khu vực bãi nuôi bị đọng nước cả ngày nên xuất hiện hiện tượng hấp thu nhiệt cục bộ làm nhiệt độ nước dâng cao vào ban trưa, dẫn đến biên độ dao động nhiệt ngày và đêm lớn khiến ngao bị một cú sốc mạnh, suy giảm khả năng chịu đựng, dẫn đến chết đồng loạt.

  • Bèo bọt hạt muối chẳng nuôi nổi diêm dân

    Bèo bọt hạt muối chẳng nuôi nổi diêm dân

    Để làm ra những hạt muối trắng tinh khiết ấy, diêm dân phải đổ mồ hôi; sôi nước mắt; phơi mặt ra nắng hè gay gắt. Tận mắt chứng kiến những diêm dân vùng Hải Lý, Hải Hậu, Nam Định mới thấu những nhọc nhằn, vất vả đó.

    Máy đo độ ẩm

    Máy đo độ ẩm không khí

    Khi mặt trời đang lấp ló, diêm dân đã có mặt trên khắp đồng muối. Giá bán không cao lại phục thuộc nắng mưa nhưng diêm dân vẫn bám nghề.

    Vùng quê chỉ thích… nắng

    Cánh đồng muối Hải Lý những ngày nắng nóng như đổi lửa đầu tháng 6. Cái nắng, cái gió biển gắt gao, bãi cát khô cháy bỏng rát chân người khiến khuôn mặt ai cũng phờ phạc, mệt mỏi dù đang thu hoạch muối.

    16h, cái nắng vẫn tạt vào xém mặt, chúng tôi theo chân chị Hà, một diêm dân ra đồng để cùng làm công việc đầy nhọc nhằn, vất vả này. Chỉ có trang gạt, xẻng và xe cút kít để chở muối.

    Chị Hà thoăn thoắt dùng chang gạt muối thành đống cho ráo nước. Chị chia sẻ: làm muối vất vả lắm, chắc chẳng có nghề nào tốn sức mà thu nhập ít như nghề muối. Nhưng không làm muối chúng tôi cũng chẳng biết làm gì.

    Hỏi về giá thành mỗi cân muối, chị lắc đầu ngao ngán. Chúng tôi ở đây bán theo phương (mỗi phương là 20kg muối). Hôm nào được giá thì 20 nghìn đồng 1 phương, hôm nào bèo thì chỉ được 17-18 nghìn đồng. Trung bình mỗi ngày chỉ thu hoạch được 10 phương, tính ra chưa được 200 nghìn đồng.

    Vừa gạt muối, vừa lau mồ hôi, chị Hà chia sẻ, để làm ra hạt muối tốn không ít công đoạn. Đầu tiên ngâm cát vào nước biển rồi đem phơi trên sân để chúng khô và kết thành hạt muối nhỏ. Dùng nước biển lọc cát được độ mặn hơn rồi phơi tiếp và lọc được độ 3. Chứng 10 giờ nước biển sẽ bốc hơi còn lại muối trên mặt sân bê tông. Người dân thu hoạch và chở về kho chứa, chờ bán. Nếu bắt đầu làm thì phải 3 ngày mới có muối và từ đó thì ngày nào cũng có muối do trữ nước độ mặn 2, 3 có thể làm gối đầu.

    Theo chị, nghề muối phụ thuộc hoàn toàn vài thời tiết, trời càng nắng to, sản lượng muối thu hoạch càng cao, trời nắng nhẹ, âm u thì người dân nghỉ vì không làm được muối.

    “Nghề khác tôi không biết nhưng với nghề muối chúng tôi chỉ thích trời nắng thật to, càng to càng được nhiều muối. Nhiều thời điểm trời mưa cả tuần, chỉ biết ngồi chơi, chẳng biết làm gì kiếm sống”, chị Hà chia sẻ.

    Hạt muối chẳng nuôi nổi diêm dân

    Nhìn sang kế bên, hai vợ chồng nhà ông Thiệu cũng đang chạy đua với nắng để thu hoạch muối. Nhà có 2 sào muối, mỗi ngày gia đình ông chỉ thu được 200 nghìn đồng, số tiền chẳng đủ sống, suốt ngày “cày cuốc” ngoài ruộng muối nhưng cũng chả dư giả được đồng nào. Ông sức khỏe yếu nên không ra khơi đánh cá được nên ở nhà làm muối. Ngoài cánh đồng muối chỉ nhìn thấy người già, phụ nữ và trẻ em gồng gánh, xúc, cào trên ruộng muối. Thanh niên trai tráng thì đi biển.

    Ông Thiệu chia sẻ: “Đi biển tuy vất nhưng thu nhập cao hơn, chừng 5-6 triệu đồng/tháng. Còn làm muối vất vả nhưng thu nhập thấp. Do đó chỉ những người sức khỏe yếu mới gắn bó với nghề này”.

    Ông ngao ngán tâm sự: Hạt muối chẳng nuôi nổi chúng tôi. Làm từ sáng tới tối mỗi ngày cũng chỉ được 200 nghìn đồng. Số tiền quá nhỏ so với sức lao động bỏ ra. Thôi thì lấy công làm lãi. Biết vậy nhưng gia đình ông và nhiều diêm dân khác vẫn chấp nhận “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” để kiếm tiền cho con ăn học và để nuôi những miệng ăn trong nhà đang trông chờ.

    Năm nay thời tiết thất thường, mưa nhiều hơn nắng nên diêm dân chơi nhiều hơn làm. Những ngày ở nhà, gia đình ông thấp thỏm, đứng ngồi không yên vì chẳng có tiền. Không có nắng là không có tiền. Khuôn mặt luôn hiện hữu nỗi lo thiếu đói và nguy cơ bỏ nghề vì cực nhọc.

    Nghề muối cơ cực, phụ thuộc thời tiết, giá cả bấp bênh nên người dân chẳng thoát đưojc cái nghè, cái khổ, chưa bao giờ thấy ai giàu lên từ muối.

    Nghề muối ở Hải Lý mỗi năm chỉ được chừng 5 tháng nắng, giá cả bấp bênh khiến cuộc sống của diêm dân cũng lao đao.

    Rời khỏi cánh đồng muối, những tia nắng vàng vọt lụi tàn thì mồ hôi diêm dân cẫn lan trên gò má gầy gò đen sạm. Những bàn chân gân guốc lũi thủi thồ muối về nhà. Khôgn biết bao giờ cuộc đời họ mới sáng được như những hạt muối kia.

  • Hiểm họa ẩn chứa từ quảng cáo giống “chân dài, dáng chuẩn”

    Hiểm họa ẩn chứa từ quảng cáo giống “chân dài, dáng chuẩn”

    Công ty giống cây trồng nào cũng nói hay, nói tốt về giống của mình như những cô gái “chân dài, dáng chuẩn” nhưng ẩn bên trong là bệnh tật tiềm tàng… bài viết trao đổi với ông Hà Qunag Dũng – GĐ Trung tâm kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng quốc gia để hiểu rõ hơn.

    Bán Kit thử nhanh

    Kit thử nhanh

    Kit thử nhanh an toàn thực phẩm

    Cần có những cảnh báo hạn chế

    Kháng bạc lá từng là ước mơ của nông dân nhưng nay chúng đang bị các doanh nghiệp lợi dụng tạo ra sự hỗn loạn?

    Bạc lá là dịch hại vô cùng nguy hiểm, năm 2013, vụ mùa tại Nam Định có 30.000ha bị nhiễm bệnh này, chủ yếu là Bắc Thơm, thiệt hại cả ngàn tỷ đồng. Cơ quan chức năng đã khuyến cáo nhưng bà con thấy cơm ngon nên tiếp tục làm.

    Nhu cầu mua Bắc Thơm theo đó gia tăng tại các vùng Nam Định, Ninh Bình. Thái Bình, Thanh Hóa. Nhiều công ty ăn theo, làm nhái.

    Theo ông, có nên in những cảnh báo hạn chế và rủi ro lên bao bì giống như khuyến cáo trên thuốc tây?

    Tôi nghĩ, cảnh báo cần trở thành nội dung bắt buộc in trên nhãn mác, bao bì ghi rõ chỉ dùng cấy cho vụ mùa nào; chân đất nào hoặc lưu ý với sâu bệnh hại gì. Bởi giống nào cũng quảng cáo là tốt nhưng thực tế khó để đạt được điều đó. Khi không in cảnh báo mà xảy ra dịch bệnh, công ty giống sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. Người nông dân hoàn toàn không biết đến hội đồng khoa học đồng ý công nhận giống mà chỉ biết đọc những gì ghi trên bao bì hướng dẫn.

    Cảnh báo bắt buộc trên bao bì nên chờ lương tâm doanh nghiệp hay phải đưa thành luật, thưa ông?

    Với cá nhân, tôi thiết nghĩ phải đưa thành luật, không trông chờ vào lương tâm doanh nghiệp được. Phải phạt nặng với công ty không in cảnh báo. Nhìn quảng cáo tôi thấy không an toàn. Ai cũng quảng cáo tốt hết, vống lên nên nông dân yên tâm, khi xảy ra dịch bệnh bị động nên thiệt hại nặng nề.

    Đối với dịch bệnh, phòng trừ muộn là vứt, mà không biết nguy cơ thì không có cách phòng trừ. Do đó, cần cảnh báo trên giống đầy đủ và chi tiết như thuốc tây.

    Giống tốt nhưng vẫn phát… dịch

    Vừa qua đã xảy ra hàng loạt vấn đề giống lúa kháng bạc, giống tự quảng cáo tốt nhưng dịch lại tràn lan, có vấn đề trong đánh giá tính chống chịu của giống, thưa ông?

    Quy trình nghiên cứu và chọn giống của ta chủ yếu dựa vào năng suất, chất lượng; tính chống sâu bệnh, hạn, rét… chưa bài bản. Trước đây, khí hậu chưa có sự biến đổi khôn lường như hiện nay.

    Nay cần thay đổi đánh giá mạnh về tính chống chịu thời tiết, sâu bệnh. Cần đưa vào thành tiêu chí và thử nghiệm xem giống có chịu được không.

    Khi khảo nghiệm phải tìm nơi có áp lực sâu bệnh cao để thử nghiệm giống. Công việc này cần đơn vị khách quan thực hiện và có đầu mối chịu trách nhiệm mới đảm bảo chính xác.

    Do đó, nhiều giống được đánh giá kháng vừa nhưng khi đưa vào thực tế thành kháng thấp. Do đó, chống chịu phải trở thành tiêu chí số 1, đặc biệt là chống sâu bệnh, chống thời tiết khắc nghiệt.

    Xin cảm ơn chia sẻ của ông!

  • Lo trái cây.. mất mùa lại mất giá

    Lo trái cây.. mất mùa lại mất giá

    Đầu vụ trái cây hè tại Đồng Nai vắng mặt những trái cây chủ đạo như chôm chôn, măng cụt do trễ vụ. Nhiều loại trái cây khác cũng bị giảm năng suất do bất lợi từ thời tiết nhưng giá trái cây vẫn giảm mạnh.

    Bán Kit thử nhanh

    Kit thử nhanh

    Kit thử nhanh an toàn thực phẩm

    Trái cây rớt giá đồng loạt

    Từ vài tuần trở lại đây, trái cây trong tỉnh rớt giá đồng loạt do “đụng hàng” với trái cây miền Tây, miền Bắc. Theo nông dân, năm nay mùa mưa đến sớm hơn, lại dồn dập hơn mọi năm cũng là nguyên nhân khiến trái cây giảm giá mạnh do chất lượng thấp, nhu cầu tiêu thụ cũng giảm. Ông Trần Tấn Quốc, tổ trưởng tổ hợp tác cây mít xã Bảo Quang (Long Khánh) cho hay, giá mít tại vườn giảm hơn nửa so với vài tuần trước. Hiện, giá mít chỉ còn 3.000-3.500đ/kg. Ngay cả mít thái siêu sớm trước đó sốt giá lên vài chục ngàn giờ cũng rớt chỉ còn 6.000đ/kg. “Giá mít năm nay giảm sớm, giảm nhiều hơn những năm trước vì mùa mưa đến sơm hơn. Hiện các vựa đã không thu mua vì chất lượng xuống, không đạt để xuất đi Trung Quốc. Các vựa còn lại thu mua chủ yếu bóc múi và bán cho các nhà máy chế biến trái cây sấy nên giá rất thấp”, ông Quốc chia sẻ.

    Giá thanh long ruột đỏ cũng giảm mạnh khi mới bước vào vụ thu hoạch do cùng mua thu hoạch Trung Quốc. Ông Ngọc, chủ trang trại thanh long Trảng Bom cho hay, thời điểm náy giá thanh long giảm chưa tới 20 ngàn đồng một kg. Loại hàng thường để bán trong nước cũng chỉ 7-8 ngàn 1 kg. Tuy chính vụ nhưng nhiều nhà vườn tỉa bớt bông và trái nhỏ để khống chế sản lượng vì gia đoạn này thấp điểm trong xuất khấu, thị trường trong nước thì cũng bắt đầu dội chợ do vào vụ trái cây hè. “Đây là giai đoạn thấp điểm để xuất khẩu thanh long đi Trung Quốc vì bên đó cũng đang thu hoạch. Đơn hàng đi Châu Âu cũng giảm bằng một nửa so với thời điểm khác trong năm. Mưa dồn dập khiến trái cây bị nấm bệnh, tỷ lệ trái chất lượng giảm ảnh hưởng đến lợi nhuận của người trồng”, ông Ngọc chia sẻ.

    Ông Minh, chủ trang trại trồng cây tại Vĩnh Cửu cho biết : “Vào mùa mưa, giá bưởi, cam, quýt đồng loạt rớt giá mạnh. So với vụ mùa thu hoạch năm trước, giá các loại cây trái có múi đã giảm 10 ngàn đồng 1 kg. Hiện bưởi xanh bị rớt giá dưới 40 ngàn đồng 1 kg; quýt đường rớt còn 26 ngàn và cam sành cũng chỉ còn 18 ngàn 1 kg”.

    Chưa thu hoạch đã lo… dội chợ

    Theo bà Nga , chủ vựa trái cây tại TX  Long Khánh cho biết: “Trái cây về chợ vẫn còn kém vì trễ vụ, mất mùa. Chôm chôm hầu như hàng chưa có, măng cụt ngày về, ngày không, sản lượng ít, giá sỉ cũng hơn 100 ngàn 1 kí. Bơ, sầu, dâu… về nhiều nhưng giá giảm hơn hơn nhiều so với đầu vụ. Trái cây hè năm nay nhiều thương lái cũng gắp khó vì sức tiêu thụ so với mọi năm rất yếu”.

    Theo những nông dân trồng măng cụt tại tổ hợp tác măng cụt, sầu riêng Hàng Gòn tại TX Long Khánh thì năm nay, măng cụt cũng mất mùa. Tại đa số các vườn, chỉ cho năng suất bằng 20-30% so với năm ngoái. Tại thời điểm này, giá bán măng cụt tại vườn lên tới cả trăm ngàn 1kg nhưng trái chưa chín nên nông dân chưa bán được đồng nào.

    Ông Tâm ở HTX Bình Lộc, Long Khánh chia sẻ: “Đầu mùa mưa, gió lốc mạnh khiến nhiều vườn sầu riêng gãy cành, trái rụng nhiều. Đầu vụ, giá sầu rất cao, hơn hẳn mọi năm nhưng vì trễ vị lại mất mùa nên nhiều nhà vừa chưa có hàng mà bán. Chờ lứa sau thu hoạch lại lo rộ, giá rớt vì hiện giá sầu đang giảm nhiệt. Nhiều vườn chôm chôm cũng chỉ ra trái non nên người trồng chỉ biết hồi hộp chờ đợi, vừa lo mất mùa lại vừa lo giá rớt”.

  • Tìm lời giải cho bài toán đầu ra nông sản Việt

    Tìm lời giải cho bài toán đầu ra nông sản Việt

    Là Quốc gia được đánh giá đứng nhóm đầu thế giới về xuất khẩu nông sản nhưng đến nay 90% nông sản Việt vẫn là xuất dưới dạng thô, kim ngạch thấp do giá mặt hàng xuất khẩu thấp hơn sản phẩm cùng loại của nhiều nước khác.

    Máy đo nồng độ co2 :

    Máy đô nồng độ co2 trong không khí

    Cùng với đó, điệp khúc “được mùa mất giá hay được giá mất mùa” vẫn tồn tại triền miên. Thậm chí hàng loạt các cuộc “giải cứu” nông sản diễn ra liên tục. Làm sao để ổn định đầu ra cho nông sản Việt là bài toán hoc búa với những nhà quản lý lúc này.

    Thực tế, trong hai năm gần đây, liên tiếp các nông sản như hành, dưa hấu, cà chua, chuối, bí… rồi thịt lợ, trứng gà rơi vào tình trạng cần “giải cứu”. Nhiều chuyên gia cho hay đã đến lúc không thể “giải cứu” mãi được mà nhà quản lý phải xem xét nguyên nhân, phân tích để giải quyết triệt để.

    Trước cuộc “giải cứu” heo vừa qua, nhiều bộ ngành, cơ quan đơn vị đã vào cuộc và cho chút chuyển biến tích cực. Tuy nhiên đó chỉ lả giải pháp tạm thời.

    Theo bà Võ thị Lý, Phó phòng chế biến bảo quản nông sản (thuộc Cục cế biến & phá triển thị trường – BNN&PTNT) thì nguyên nhân của tình trạng trên là do tổ chức sản xuất theo quy hoạch chưa đạt mục tiêu. Một số địa phương xác định được vùng chuyên canh thế mạnh nhưng quy mô, diện tích manh mín, nhỏ lẻ, sản phẩm chưa đồng đều. Đặc biệt, chưa có sự liên kết chuỗi giá trị, liên kết vùng miền.

    Hơn nữa chưa có thông tin thị trường nhất quán từ Trung ương đến địa phương. Đồng thời năng lực về phân tích, dự báo xu hướng thị trường hạn chế, kênh thông tin thị trường đến doanh nghiệp, đến đơn vị sản xuất còn yếu và thiếu.

    Công tác nghiên cứu thị trường cũng chủ yếu mang tính thời điểm, thời vụ, đột xuất. Chủ yếu dựa vào thông tin giá cả hơn là dựa vào phân tích, dự báo lâu dài. Do đó, sản xuất chưa dựa trên dự báo cung, cầu của thị trường..

    Theo thứ trưởng BNN&PTNT Trần Thanh Nam, muốn giải bài toàn này cần các địa phương quản lý, giám sát quy hoạch sản xuất mà Bộ đề ra. Yêu cầu nâng cao trách nhiệm trong quản lý quy hoạch, tránh tình tragnj phá vỡ quy hoạch dẫn đến không thể kiểm soát.

    “Đặc biệt cần đẩy mạnh tổ chức sản xuất chuỗi liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân. Các lĩnh vực cần được tổ chức theo mô hình hợp tác xã nhằm điều phối thị trường. Bởi người nông dân không đủ sức và không có thông tin thị trường. Qua hợp tác xã, người dân sẽ nắm về thị trường cần gì, cần số lượng bao nhiêu để tổ chức sản xuất”, ông Nam nhấn mạnh.

    Bộ NN&PTNT cùng Bộ Công Thương đã ký bản ghi nhớ tăng cường phối hợp công tác thúc đẩy sản xuất, tiêu thị nông, lâm, thủy hải sản giai đoạn 2016 – 2020.

    Hai bộ sẽ tăng cường phối hợp thực hiện hiệu quả sáu lĩnh vực sản xuất theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng cùng giá trị nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường. Trao đổi thông tin tháo gỡ rào cản thuế, phí, mở cửa thị trường, xúc tiến thương mại, quản lý thị trường, chống buôn lậu, hàng giả, đẩy mạnh cơ khí hóa hiện đại hóa nông nghiệp, thu hút đầu tư chế biến nông, lâm, thủy hải sản, tăng cường phát triển làng nghề, quản lý nhà nước, thống nhất chỉ đạo địa phương.

    Bộ Nông nghiệp có kế hoạch xây dựng phát triển thương hiệu cho nông sản chủ lực đến năm 2020. Trước mắt tập trung vào năm mặt hàng chủ lực, không dàn trải như chè, xoài, cá tra, thanh long và cà phê.

    Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu, rộng như hiện nay, tăng cường khả năng cạnh tranh đồng nghĩa tạo ra sản phẩm chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn, nhu cầu, thị hiếu của thị trường. Đó là giải pháp phát triển mạnh và bền vững mà nông nghiệp hướng tới thông qua tập trung đảy mạnh phát triển thương hiệu các sản phẩm chủ lực.

  • Thiệt hại 700 tỷ đồng vì tôm hùm chết: Nguyên nhân vẫn nhập nhèm

    Thiệt hại 700 tỷ đồng vì tôm hùm chết: Nguyên nhân vẫn nhập nhèm

    UBND tỉnh Phú yên đã tổ chức họp khẩn ngày 2.6 về vụ tôm hùm chết hàng loạt tại vùng biển Sông Cầu. Đây là lần đầu tiên, UBND tỉnh tổ chức họp báo đột xuất về sự kiện đang được sư luận đặc biệt quan tâm nhưng câu trả lời quan trọng nhất thì vẫn chưa được đưa ra.

    Máy đo nồng độ oxy hòa tan :

    Máy đo oxy hòa tan

    Máy đo nồng độ oxy hòa tan trong nước

    “Đại tang”… tôm hùm

    Theo báo cáo mới nhất từ UBND tỉnh, trên địa bàn thị xã Sông Cầu xảy ra tình trạng tôm hùng nuôi bị chết hàng loạt, nhất là các lồng nuôi đặt sát đấy từ ngày 24.5. Tính đến 1.6, có tới 769.175 con tôm chết trong tổng số 502 hộ nuôi tôm tại khu vực. Tôm chết gồm cả tôm giống lẫn tôm thương phẩm. Lượng tôm chết ước khoàng 350-400 tấn, thiệt hại ước tính trên 700 tỷ đồng. Đáng chú ý là trong số các hộ nuôi tôm bị thiệt hại, tủ lệ hộ mất trắng lên đến 80%, số còn lại thiệt hại trên 50%. Đời sống các hộ dân gặp rất nhiều khó khăn vì áp lực nộ nần do phải đi vay vốn ngân hàng.

    Không khí cuộc họp báo không ngừng “nóng” lên trước những ý kiến chất vấn của đại diện cơ quan chức năng và báo giới. Tuy nhiên, UBND tỉnh cũng chưa công bố kết quả kiểm nghiệm mẫu nước thải của cơ sở chế biến thủy hải sản của công ty Nguyễn Hưng – Sông Cầu – nơi nông dân đang nghi ngờ có xả thải trái phép ra môi trường gây ra hiện tượng tôm hùm nuôi bị chết.

    Bà Lê Đào Xuân Anh – PGD Sở TNMT Phú Yên cho hay: “Cơ sở Nguyễn Hưng hiện có hai ống xả thải ra biển (1 ống được cấp phép và 1 ống dự phòng). Hai tháng qua cơ sở này bị sự cố về hệ thống xử lý nước thải nên dùng xe di chuyển nước thải đến khu vực khác. Tuy nhiên công ty hoàn toàn không báo cáo sự việc với cơ quan chức năng về sự thay đổi phương án xử lý chất thải này”.

    Ông Phạm Kiên, chủ tịch UBND thị xã Sông Cầu cho biết, nhiều ngày qua chính quyền đã liên tục đối thoại với hàng trăm người dân yêu cầu lãm rõa nghi ngờ về việc cps xả thải trái phép của cơ sở Nguyễn Hưng gây chết cho tôm. Chính quyền cũng hết sức chia sẻ về những thiệt hại của bà con nông dân và vận động hãy bình tĩnh để chờ công bố kiểm nghiệm chính thức nguyên nhân gây chết tôm.

    Thiệt hại lớn nhất trong lịch sử

    Với mức thiệt hại ước tính trên 700 tỷ đồng được xem là lớn nhất từ trước tới nay với bà con nuôi tôm ở Phú Yên. Nguyên nhân tôm chết hàng loạt mà ngành nông nghiệp tỉnh đưa ra vẫn còn rất chung chung: Do mật độ nuôi quá dày dẫn đến ô nhiễm môi trường và thời tiết đột ngột thay đổi. Việc lấy mẫu nước ở các điểm liên quan thực hiện công khai cùng với lấy mẫu của người dân vùng nuôi trên. Tuy nhiên kết quả kiểm nghiệm lại “bặt tăm”.

    “Trong nhiều hộ nuôi tôm thiệt hại, tỷ lệ mất trắng chiếm 70-80%. Thiệt hại vô cùng lớn. Chính quyền đã dồn toàn lực giúp dân khắc phục hậu quả, ổn định cuộc sống và sản xuất. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đề nghị Trung ương hỗ trợ Phú Yên vượt qua đợt khó khăn này” – Ông thế cho biết. Tuy nhiên, theo ông Thế, do chưa có kết quả kiểm nghiệm nên chưa thể đưa ra kết luận chính thức cuối cùng về nguyên nhân khiến tôm chết hàng loạt tại Sông Cầu.

    Trao đổi với chúng tôi, ông Trần Minh mẫn, GD Agribank Phú Yên cho hay, đơn vì này cũng đang khẩn trương rà soát, thống kê cụ thể số lượng tôm hùm chết và giá trị của từng hộ để hỗ trợ theo chính sách hiện hành khi người nông dân bị dịch bệnh, thiên tai. Hầu hết người nuôi tôm ở đây đều vay vốn từ Agribank. Thống kê sơ bộ hiện các hộ nông dân nuôi tôm đang có dư nợ tại ngân hàng chừng 200 tỷ và có hộ vay nợ đến 70 tỷ.

  • “Nông dân – Nạn nhân đầu tiên của nền nông nghiệp thiếu tính bền vững”

    “Nông dân – Nạn nhân đầu tiên của nền nông nghiệp thiếu tính bền vững”

    Cho rằng, những giải pháp như chặt cây cà phê thay thế bằng chanh dây hay những giống cây khác, chạy theo cơn sốt thị trường cục bộ nhất thời thật đnág lo ngại, đại biểu Nguyễn Thị Huệ nêu ý kiến, nông dân cần hơn hết là sự quan tâm đồng bộ của các cấp, bộ, ban ngành nhưng không phải theo cách cứu trợ mà chính là đường lối, chính sách giúp đỡ họ.

    Máy đo độ mặn

    Máy đo độ mặn giá rẻ

    Bút đo độ mặn

    Đại biểu này cho biết do công việc thường xuyên tiếp xúc với nông dân hàng ngày nên bà Nguyễn Thị Huệ (Đắc Lắk) đã chỉ ra hàng loạt các vấn đề của nông nghiệp địa phương, cụ thể là các hoạt động trồng trọt, canh tác của những người nông dân trên địa bàn Tây Nguyên.

    Bà Huệ cho biết, từ hơn 4 năm nay, giá cà phêtrên thị trường nội địa ngày càng đi xuống. Từ sau khi giá cà phê chạm đỉnh trên ngưỡng 50 ngàn đồng/kg, đến nay đã có thời điểm rớt xuống còn 30 ngàn đồng/kg. Gần đây có tăng nhẹ nhưng chưa ai có thể đảm bảo được giá sẽ ổn định và tốt hơn.

    Cùng chung cảnh ngộ, hồ tiêu cũng tụt dốc không phanh, từ trên 200 ngàn đồng/kg thì giờ đây chỉ còn 130 – 140 ngàn đồng/kg. Thị trường hàng hóa nông sản, nhất là những mặt hàng giao dịch trên các sàn tài chính tái sinh nay phụ thuộc và chịu nhiều rủi ro về giá cả.

    Cùng với đó, vị đại biểu này cũng cho biết, giá cả là một chuyện, thị phần của hai mặt hàng này càng đáng lo ngại hơn. Thời gian qua, cuộc chiến tiền tệ của các nước đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng cạnh tranh của các mặt hàng nông sản xuất khẩu vốn là thế mạnh của Việt Nam.

    Nạn hạn hán kéo dài hoành hành, những vùng sản xuất cà phê và hồ tiêu thiếu nước nghiêm trọng, năng suất và diện tích giảm. Nhiều vùng bà con nông dân đau lòng nhìn cây cà phê bị thiêu cháy vì khô hạn.

    Bà Huệ cũng cho biết, đang xảy ra tình trạng nhiều hộ nông dân trồng cà phê tại tây Nguyên chặt cây để chuyển sang trồng cây ngắn ngày khác như chanh dây. Do đó, vị đại biểu này lo ngại về thị trường cà phê và hồ tiêu vốn rất rộng lớn như vầ, lực thanh khoản của cả hai đang đứng hàng bậc nhất hiện nay mà còn lao đao cả về thị trường lẫn thị phần. “Vậy nếu trồng chanh dây như một loại cây thay thế cũng sẽ khó mà tồn tại lâu bền, nông dân cũng vẫn sẽ là nạn nhân của một nền nông nghiệp không có sự chăm sóc, hay hiểu trọn nghĩa là thiếu tính bền vững”.

    Do đó, đại biểu này đề nghị, Nhà nước cần chủ động đưa ra những phương sách kịp thời nhất để cứu cây cà phê Tây Nguyên, nơi người nông dân đang đau lòng chặt đi.

    “Vẫn biết rằng sản xuất nông nghiệp phải đa ngành; đa dạng hóa sản phẩm; song phương án chặt bỏ cây cà phê – cây trồng được xem là chiến lực của vùng đất Tây Nguyên để tay thế bằng chanh dây hoặc cây khác chạy theo cơn sốt thị trường nhất thời quả thật rất đáng lo ngại” – Vị đại biểu này phát biểu quan điểm.

    Bài học nhãn tiền mới đây, khoảng đầu và giữa 2015, giá chanh dây đạt nức 54.000đ/kg, nhiều hộ chặt cà phê chồng chanh dây thì giờ giá chanh dây tuột dốc chỉ còn 10.000đ/kg.

    “Phải nói vấn đề nêu trên là bài toán khó mà xã hội đặt ra trong thời gian vừa qua và tới đây nhưng các bộ, ngành chưa có những giải pháp thỏa đáng nhằm giảm thiệt hại, khó khăn cho nông dân”, đại biểu tỉnh Đắk Lắk nhận xét.

    Về chính sách tái canh cho cà phê, bà Huệ cho biết dù chính sách Nhà nước hỗ trợ nhưng khi thực hiện phải tuân thủ điều kiện khiến nông dân khó tiếp cận vốn.

    “Gói vốn vay cho chương tình 17.000 tỷ giao cho Agribank với điều kiện tưởng chừng không thể tốt hơn nhưng đống vốn ưu đãi này lại thiếu vắng bóng nông dân” – bà Huệ cho biết.

    Theo vị này, nong dân cần sự quan tâm của các cấp, ban ngành nhưng không phải mang tính chất cứu trợ mà cần sự định hướng lâu dài.

    Dựa trên đặc thù của nông nghiệp Việt Nam là nông dân sản xuất nhỏ lẻ nên cần khuyến khích thành lập hợ tác xã chuyên ngành trong điều kiện hoạt động quản lý minh bạch, trong sáng, tự quản, tự chịu trách nhiệm trên tinh thần hợp tác, tiếp thu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất; được vay vốn, tín dụng nhằm giảm chi phí đầu vao, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Bên cạnh đó cần tạo điều kiện cho nông dân tiếp xúc thị trường trực tiếp để hiểu về giao thương, giao dịch, giảm thiểu trung gian trong chuỗi cung ứng – Đại biểu tỉnh Đắk Lắk đề nghị.

  • Nút thắt trong sản xuất lúa gạo Việt

    Nút thắt trong sản xuất lúa gạo Việt

    Trong thời điểm ngắn hạn, giá lúa gọa vẫn có xu hướng tăng theo dự báo về nhu cầu dự trữ lúa gạo của nhiều quốc gia. Tuy nhiên, lúa gạo Việt phải đối mặt với nút thắt ở chuỗi sản xuất, theo thông tin từ hội thảo về triển vọng lúa gạo mới đây được tổ chức tại Hà Nội.

    Máy đo độ mặn

    Máy đo độ mặn giá rẻ

    Bút đo độ mặn

    Theo nghiên cứu thị trường lúa gạo Việt nam của Bộ môn nghiên cứu và ngành hàng thuộc Viện chính sách & chiến lược phát triển Nông nghiệp, Nông thôn (Ipsard) cho thấy, sản xuất lưa gạo nước ta đang có nút thắt ở hai đầu trong chuỗi sản xuất. Nút thắt thứ nhất từ phía người sản xuất mà nguồn cung chủ yếu là người nông dân, tập trung trọng điểm ở một số tỉnh thành. Trong đó, 20% lúa thặng dư tập trung ở nhóm 20% nông dân sản xuất lúa gạo nhiều nhất, diện tích canh tác trung bình khoảng 2.74ha. Trong tổng số khoảng 9 triệu hộ trồng lúa với lượng sản xuất lúa gạo từ 300.000 hộ chiếm chủ yếu lượng gạo dành cho xuất khẩu.

    Nút thắt thứ hai từ hoạt động chế biến bị phình ra, phân tán tại 300.000 nhà máy, đa phần là quy mô nhỏ. Trong khi đó tại Thái Lan, chỉ có 1.000 nhà máy. Hoạt động xuất khẩu lúa gạo Việt thắt lại với chừng 100 nhà xuất khẩu; trong đó khoảng 22 nhà xuất khẩu có giấy phép xuất sang thị trường Trung Quốc.

    Hai nút thắt này đã tạo nên hoài nghi từ các chuyên gia nghi ngờ rằng đây chính là nguyên nhân khiến thị phần gạo Việt xuất khẩu ra thế giới bị sụt giảm nghiêm trọng trong thời gian gần đây. Số liệu thống kê của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn cho thấy, xuất khẩu gạo nước ta giảm 27% về lượng và 23% về giá trị so với 2015 và thấp nhất trong khoảng ít nhất là 8 năm trở lại đây.

    Thị phần gạo Việt sang thị trường lớn Trung Quốc cũng giảm mạnh. Thị phần gạo Việt tại các thị trường khắt khe, khó tính, giá trị nhập cao như EU, Trung Đông… đang giảm mạnh hoặc có chăng cũng rất ít, chỉ chiếm vài phần trăm.

    Dù khi thị phần xuất khẩu yếu đi nhưng thị trường trong nước cũng không phải là mảnh đất “trú ẩn” của gạo Việt vì các nhà sản xuất, phân phối chưa khai thác triệt để thị trường này. Một số rào cản trong thị trường nội địa như cung, cầu còn mang nặng tính vùng miền; dân dư sống ở vùng nông thôn còn khá cao…

    Xuất khẩu gạo thế giới có thể phục hồi?

    Ông Sergio Araujo, Ban Thương mại và Thị trường của Fao Rome cho rằng thách thức của gạo Việt là chuyển từ lúa gạo cấp thấp sang cấp cao. Và làm thế nào để tạo sự khác biệt giữa lúa gạo Việt với lúa gạo quốc gia khác.

    Bởi hiện tại, cạnh tranh trong phân khúc cao cấp cũng khắc nghiệt. Nhiều nước cũng đang định hình phân khúc gạo cao cấp. Như Thái Lan nâng cao tiêu chuẩn gạo cấp cao và lặp cơ quan nghiên cứu giá trị gia tăng cho ngành gạo (AOI); Ấn Độ tập trung nâng cao tiêu chuẩn cho gạo Basmati; Myanmar cũng nâng cao sản xuất gạo hữu cơ…

    Xét về cầu, nhu cầu tiêu thụ gạo đang giảm xuống và thay bằng các sản phẩm thịt, cá, trứng, sữa, hải sản… Trung Quốc đang bão hòa về tiêu thụ gạo do tốc độ tăng trưởng nền kinh tế giảm và tăng dân số thấp.

    Từ số liệu của Ipsard, năm 2002, hộ thu nhập cao nhất ciếm 20%, dành 48% ngân sách cho gạo thì năm 2012, với 20% hộ này chỉ dành 33% ngân sách cho gạo.

    Bà Phạm Kim Dung, Trưởng nhóm nghiên cứu Ipsard cho rằng, bên cạnh suy giảm nhu cầu tiêu thụ gạo, các nước nhập khẩu gạo lâu năm của nước ta cũng có chính sách an ninh lương thực riêng cho mình. Như Trung Quốc cũng đa dạng hóa gạo nhập khẩu; Philippines, Malaysia, Indonesia, vài nước Châu Phi đẩy mạnh tự cung, tự cấp. Trong đó Indo còn tham vọng xuất khẩu 10.000 tấn trong năm 2017.

    Tuy nhiên, Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ Quốc tế dự báo xu hướng nhích lên của gạo vẫn có do nhiều quốc gia tăng dự trữ. Malaysia tăng nhập khẩu gạo lên 950.000 tấn do sản xuất phục hồi thấp hơn dự báo. Bangladesh cũng tuyên bố nhập 600.000 tấn, có nhắm tới thị trường Việt. Nhiều nước Châu Phi cũng tăng dự trữ.

    Nhu cầu nhập gạo của Trung Quốc năm 2017 dự báo tăng nhưng gạo Việt sẽ chịu cạnh tranh khốc liệt. Hiện nhiều nước xuất khẩu gạo đang vận động hành lang để Trung Quốc có thể cấp phép thêm cho các nước xuất khẩu gạo, như Campuchia; Ấn Độ; Việt Nam cũng vậy. Nước láng giềng Thái Lan là đối thủ lớn của nước ta, lợi thế xuất khẩu gạo qua hợp đồng chính phủ với đất nước Trung Quốc.

  • Hàng loạt cây cam chết do… chích thuốc lạ

    Hàng loạt cây cam chết do… chích thuốc lạ

    Gần đây, tại Vĩnh Long và Đồng Tháp đã xảy ra tình trạng nhiều hộ nông dân đã thuê người chích thuốc cho cam nhằm trị bệnh vàng lá gân xanh (Loại bệnh chưa có dòng thuốc đặc trị), khiến hàng loạt cây cam bị chết.

    Máy đo độ ẩm

    Máy đo độ ẩm không khí

    Ông Trần Văn Thắng, một nông dân 55 tuổi ở ấp Vĩnh Lợi, Vĩnh Xuân, Trà Ôn, Vĩnh Long cho biết gia đình sở hữu vườn cam rộng tới 6.000m2, trồng chừng 2.500 cây cam, có tới hơn 2/4 diện tích bị mắc bệnh vàng lá. Các đây chừng 2 tháng, có người đến nhà gặp ông và gạ ông bỏ tiền chích thuốc nhằm trị bệnh cho cây cam. Họ cam kết đảm bảo hết bệnh 100%. “Họ chào giá chích thuốc với 12.000đ/cây. Vườn nhà tôi có tổng số 600 cây cam bệnh, tương đương số tiền mướn họ chích là 7.2 triệu đồng. Tôi ứng trước 5 triệu đồng và trả nốt nếu như khi cây cam xanh tốt trở lại. Tuy nhiên, chỉ chừng 2 tháng chích thuốc, lá cam bắt đầu rụng sạch, trái cũng rụng dần rồi chết khiến tôi còn mất tiền thuê nhân công cưa bỏ cây đi để trồng cây mới”. Ông Thắng rất bức xúc chia sẻ.

    Theo ông, dạo đó cả khu có hàng loạt đến chục họ cùng mướn người chích thuốc nhằm ngừa bệnh cho cam giống ông và đến giờ tất cả đều cùng chung cảnh ngộ. “Mấy ngày hôm nay tôi gọi mà không “kỹ sư” nào dám nghe máy”, ông Thắng tức giận cho biết thêm.

    Cùng cảnh ngộ, ông Trần Văn On, 60 tuổi ngụ tại ấp Hòa Bình, xã Tân Hòa, Lai Vung, Đồng Tháp cho biết gia đình ông trồng 3.000m2 cam mật, có cây có tuổi thọ chừng 7 năm, đã cho thu hoạch tới 4 mùa. Nhưng dạo gần đây, có tới 70% cây cam trong vườn có hiện tượng vàng lá. Tháng trước, có mấy người đến gạ ông chích thuốc nhằm trị bệnh cho cây cam. Ông thấy nhiều người trong vùng thực hiện nên ông cũng đồng ý làm theo, ông hy vọng có thể cứu vãn được vườn cam. Tuy nhiên, đến giờ hầu hết số cây được chích thuốc đều lâm vào tình cảnh hoại tử, nứt da thân và chảy mủ ngay tại vết chích. “Họ tiến hành khoan thẳng trực tiếp vào cam một lỗ sau chừng 2cm, có kích thước cách mặt đất chừng 10cm, ho dùng ống chích thuốc vào lỗ khoan bằng đoạn ống dẫn tự chế từ ruột xe dài chừng 20cm. Họ dặn tôi sau 24h thì rút ống bơm ra. Mỗi ống bơm họ tính giá 120.000đ (cây lớn 2 ống, cây nhỏ 1 ống). Họ trộn thuốc pha vào xô, có loại là nông dược, có loại không nhãn mác, hỏi họ thuốc gì thì họ không nói cụ thể, họ nói là thuốc của thầy giao việc cho đi làm”, ông On kể lại sự việc.

    Phó trưởng phòng NN&PTNT H. lai Vung (Đồng Tháp), ông Huỳnh Quang Toàn cho biết đã nghe thấy chuyện chích thuốc cho cây cam nhưng chưa nhận được báo cáo cụ thể của địa phương nào.

    Với những cây cam bị đốn hạ, Thạc sỹ Nguyễn Minh Luân, cán bộ kỹ thuật trạm trồng trọt và bảo vệ thực vật huyện Trà Ôn chia sẻ: “Xung quanh khu vực lỗ chích cam đã bị nhiễm bệnh. Bên trong lõi cây cam thì bị nhiễm thuốc có màu thâm đen, cây chết là điều đương nhiên. Không có cách nào có thể cứu chữa được. Đây là một cách làm hết sức phản khoa học bởi khoan vào thân cây sẽ để lại những vết xước khiến mầm bệnh càng dễ dàng tấn công vào sâu gốc cây.

    Ông Nguyễn Minh Thuấn, Phó trưởng phòng NN&PTNT huyện Trà Ôn khẳng định ông sẽ trực tiếp cho cán bộ tiến hành kiểm tra và khuyến cáo toàn bộ bà con trồng cam không nên thực hiện chích thuốc cho cam. Khi phát hiện loại thuốc chích không có nguồn gốc, nhãn mác rõ ràng hãy đề nghị, báo cơ quan chức năng nhằm xử lý theo quy định của pháp luật”.